Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Việt Nam là một trong những quốc gia sở hữu mức độ đa dạng sinh học cao về các loài linh trưởng trên thế giới, với 24 loài và phân loài (theo hệ thống phân loại của Groves, 2004) thuộc 3 họ chính: họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae). Trong đó, có 5 loài liên tục nằm trong danh sách 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất thế giới từ năm 2000 đến nay. Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri Osgood, 1932) là loài linh trưởng đặc hữu của Việt Nam, hiện được xếp ở mức Cực kỳ nguy cấp (CR) trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) cũng như Danh lục Đỏ của Hiệp hội Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN, 2019). Loài này đồng thời thuộc Phụ lục I của Công ước CITES, nhóm IB của Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, Nghị định số 160/2013/NĐ-CP và Phụ lục 01 của Thông tư số 04/2017/TT-BNN&PTNT. Tổng số cá thể ngoài tự nhiên của loài ước tính chỉ còn khoảng 281 đến 317 cá thể (Nadler, 2004) hoặc khoảng 250 cá thể theo các ghi nhận khác, phân bố cục bộ và bị chia cắt mạnh thành các quần thể nhỏ, dẫn đến nguy cơ thoái hóa di truyền cao.
Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long (huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình) là khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước nội địa đầu tiên tại Việt Nam, sở hữu hệ sinh thái núi đá vôi ngập nước đặc trưng. Ngày 18/12/2010, Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục Vân Long là nơi có quần thể Voọc mông trắng sinh sống lớn nhất cả nước. Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về loài tại đây như nghiên cứu phân bố và sinh cảnh của Nguyễn Bá Quyển (2008), hiện trạng và mối đe dọa của Nguyễn Kim Kỳ (2008), sinh thái và tập tính của Nguyễn Hữu Hiến (2001), sinh học sinh thái của Nguyễn Vĩnh Thanh (2008), các nghiên cứu cập nhật về biến động số lượng, cấu trúc đàn và áp lực sinh cảnh vẫn còn hạn chế. Do đó, khóa luận thực hiện nhằm bổ sung dẫn liệu khoa học phục vụ quản lý và bảo tồn loài linh trưởng này.
Mục tiêu chung của nghiên cứu là cung cấp các thông tin cơ bản về tình trạng bảo tồn Voọc mông trắng tại Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giám sát, bảo tồn và phát triển loài tại Việt Nam.
Nghiên cứu xác định 4 mục tiêu cụ thể:
- Xác định hiện trạng quần thể Voọc mông trắng tại khu vực nghiên cứu;
- Xác định khu vực phân bố của quần thể Voọc mông trắng tại khu vực nghiên cứu;
- Xác định và đánh giá các mối đe dọa đến quần thể Voọc mông trắng tại khu vực nghiên cứu;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo tồn và phát triển quần thể Voọc mông trắng tại khu vực nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là loài Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri Osgood, 1932) và các mối đe dọa tác động lên loài cùng sinh cảnh sống của chúng tại Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, tỉnh Ninh Bình.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Địa bàn xã Gia Vân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình (thuộc vùng lõi và vùng đệm của khu bảo tồn).
- Thời gian: Nghiên cứu thực hiện trong 4 tháng, từ tháng 01/2020 đến hết tháng 04/2020. Trong đó, thời gian thu thập tài liệu và xây dựng đề cương từ ngày 13/01/2020 đến 18/01/2020; thời gian điều tra thực địa từ ngày 10/02/2020 đến 30/03/2020; thời gian xử lý số liệu và hoàn thiện báo cáo từ ngày 01/04/2020 đến 03/05/2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận áp dụng khung phân loại học linh trưởng của Groves (2004), Brandon-Jones và cộng sự (2004), cùng các phân tích phân tử của Roos và cộng sự (2007) để xác định vị trí phân loại của loài Voọc mông trắng thuộc bộ Linh trưởng (Primates), họ Khỉ (Cercopithecidae), phân họ Voọc (Colobinae), giống Voọc (Trachypithecus). Về tiêu chí cấu trúc đàn, tác giả sử dụng thang phân chia nhóm tuổi và giới tính theo Nadler và cộng sự (2003) gồm 6 cấp:
- Sơ sinh 1 (SS1): Dưới 4 tuần tuổi, lông toàn thân màu vàng, bám mẹ hoàn toàn;
- Sơ sinh 2 (SS2): Từ 4 tuần tuổi đến 9 tháng tuổi, lông vàng có các mảng đen ở khuỷu tay, khuỷu chân và dưới đuôi, thỉnh thoảng rời mẹ;
- Sơ sinh 3 (SS3): Từ 9 tháng tuổi đến dưới 2 năm tuổi, lông thân chuyển sang màu đen, lông trên đầu màu nâu sáng hoặc đỉnh đầu trắng, lông đùi bắt đầu chuyển màu trắng, thỉnh thoảng còn bú mẹ;
- Con non (CN): Dưới 3 năm tuổi, lông đầu đã đen, lông đùi có màu trắng, đuôi có túm tua lông ở mút đuôi chứ chưa có hình cà rốt;
- Đực trưởng thành (ĐT): Trên 3 năm tuổi, đầu và thân màu đen, đùi trắng sáng, đuôi hình cà rốt, bẹn màu đen;
- Cái trưởng thành (CT): Trên 3 năm tuổi, đặc điểm tương tự đực trưởng thành nhưng bẹn có mảng lớn màu trắng. Khóa luận không sử dụng tiêu chí "Gần trưởng thành" do không có khác biệt hình thái rõ ràng ngoài kích thước cơ thể đạt khoảng 3/4 cá thể trưởng thành.
Về phương pháp đánh giá mối đe dọa, đề tài áp dụng phương pháp định lượng và xếp hạng của Margoluis và Salafsky (2001) dựa trên 3 tiêu chí: Diện tích ảnh hưởng, Cường độ tác động và Tính cấp thiết. Thang điểm đánh giá chạy từ 1 (ít ảnh hưởng nhất) đến n điểm (ảnh hưởng lớn nhất).
Nguồn dữ liệu và các phương pháp nghiên cứu thực địa bao gồm:
- Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập và tổng hợp số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội địa phương, các công trình nghiên cứu trước đây về sinh học, sinh thái giống Trachypithecus và Voọc mông trắng.
- Phương pháp phỏng vấn: Thực hiện phỏng vấn 15 người bằng phiếu câu hỏi soạn sẵn kết hợp tranh ảnh nhận dạng loài. Đối tượng phỏng vấn gồm cán bộ phòng khoa học, kiểm lâm viên thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng Hoa Lư – Vân Long, nhân viên lái đò và người dân có kinh nghiệm tại 4 thôn thuộc xã Gia Vân (Tập Ninh, Bích Sơn, Mai Trung, Phù Long).
- Phương pháp điều tra theo tuyến: Do địa hình đặc thù gồm các vách núi đá vôi dựng đứng xen kẽ đầm lầy ngập nước quanh năm, người nghiên cứu không thể đi bộ trên vách đá mà sử dụng thuyền nan di chuyển dọc chân núi với tốc độ 1 - 2 km/giờ, quan sát sang hai bên tuyến trong phạm vi 50 m. Ba tuyến điều tra được thiết lập tại xã Gia Vân:
- Tuyến 1: Chiều dài 2,9 km, tọa độ điểm đầu 20°20'43,92"N / 105°53'2,33"E, điểm cuối 20°20'51,55"N / 105°53'23,44"E; sinh cảnh chủ yếu là Rừng thứ sinh trên núi đá vôi.
- Tuyến 2: Chiều dài 2,08 km, tọa độ điểm đầu 20°20'43,92"N / 105°53'2,33"E, điểm cuối 20°21'3,27"N / 105°53'9,3"E; sinh cảnh chủ yếu là Trảng cây bụi thứ sinh thường xanh trên núi đá vôi.
- Tuyến 3: Chiều dài 3,14 km, tọa độ điểm đầu 20°20'43,12"N / 105°53'3,48"E, điểm cuối 20°20'51,55"N / 105°53'23,44"E; sinh cảnh chủ yếu là Trảng cây bụi thứ sinh thường xanh trên núi đá vôi.
- Thiết bị và xử lý số liệu: Sử dụng GPS định vị tọa độ, ống nhòm, la bàn, bản đồ địa hình. Dữ liệu không gian và tọa độ bắt gặp được xử lý bằng phần mềm MapInfo 15.3 để xây dựng bản đồ phân bố. Số liệu thống kê được phân tích qua phần mềm SPSS 13.0, Microsoft Excel và Microsoft Word.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học về phân loại, hình thái, sinh thái học của phân họ Voọc và loài Voọc mông trắng. Khu hệ linh trưởng Việt Nam ghi nhận 24 loài và phân loài (Groves, 2004) hoặc 25 loài và phân loài (Roos et al., 2007), trong đó có 6 loài và phân loài đặc hữu gồm: Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri), Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus poliocephalus), Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea), Khỉ đuôi dài Côn Đảo (Macaca fascicularis condorensis), và Vượn đen Cao Vít (Nomascus nasutus nasutus).
Voọc mông trắng được Wilfred H. Osgood mô tả lần đầu vào năm 1932 dựa trên mẫu vật đực trưởng thành thu thập tại Hồi Xuân (Thanh Hóa), hiện lưu giữ tại Bảo tàng Tự nhiên Anh (ký hiệu N032). Loài có chiều dài cơ thể 1400 - 1410 mm (thân dài 570 - 580 mm, đuôi dài 820 - 840 mm), trọng lượng con trưởng thành từ 6,5 đến 7,6 kg; mào lông đỉnh đầu hình chóp nhọn, vệt lông trắng kéo dài từ má qua tai ra sau gáy, toàn thân màu đen trừ mảng lông trắng từ eo kéo dài xuống đầu gối. Nghiên cứu thực nghiệm tại Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng Nguy cấp Cúc Phương cho thấy loài ăn 204 loài thực vật thuộc 57 họ (trong đó ăn chồi lá của 203 loài, ăn hoa 16 loài, ăn quả 13 loài, củ 3 loài, vỏ 10 loài); nhu cầu thức ăn đạt trung bình 1184 g/ngày (chiếm 16,91% trọng lượng cơ thể), nhu cầu nước từ 400 đến 500 ml/ngày. Hoạt động ngày chiếm 58% (ngủ trưa 18%, ăn 17%, di chuyển 8%, hoạt động khác 15%), hoạt động ngủ tối chiếm 42% (Nguyễn Hữu Hiến, 2001). Thời gian mang thai trung bình 196 ngày, mùa sinh sản từ tháng 2 đến tháng 8, mỗi lứa đẻ 1 con với trọng lượng sơ sinh 350 - 500 g.
Chương 2: Mục tiêu, đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu của khóa luận. Tác giả xác định nội dung trọng tâm gồm điều tra hiện trạng cá thể, cấu trúc bầy đàn, lập bản đồ phân bố theo sinh cảnh, nhận diện 5 mối đe dọa sinh thái và đề xuất 6 nhóm giải pháp kỹ thuật quản lý. Khóa luận mô tả quy trình thực địa bằng thuyền nan trên 3 tuyến điều tra cố định với tổng chiều dài khảo sát hơn 8,1 km. Hệ thống biểu mẫu ghi chép ngoại nghiệp được chuẩn hóa để thu thập thông tin tọa độ GPS, thời gian quan sát, cấu trúc tuổi - giới tính, cũng như các điểm tác động nhân vi (chặt cây, đặt bẫy, chăn thả gia súc). Quy trình cho điểm đánh giá mức độ đe dọa theo phương pháp Margoluis và Salafsky (2001) được cụ thể hóa thành ma trận đánh giá.
Chương 3: Đặc điểm khu vực nghiên cứu
Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long nằm trên địa giới 7 xã thuộc huyện Gia Viễn (Liên Sơn, Gia Hưng, Gia Hòa, Gia Vân, Gia Lập, Gia Tân, Gia Thanh). Tổng diện tích tự nhiên của vùng là 8.727 ha, trong đó diện tích khu bảo tồn là 2.900 ha. Địa hình khu vực là dải núi đá vôi kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam với các đỉnh núi dưới 300 m (đỉnh Ba Non cao nhất đạt 391 m, đỉnh Cô Tiên 245 m, núi Sim 233 m, núi Mào Gà 208 m, núi Mèo Cào 206 m), bề mặt chia cắt hiểm trở với nhiều hang động ngập nước (hang Cá dài 250 m, hang Bóng dài hơn 100 m). Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình năm 23,3°C – 23,4°C; lượng mưa bình quân 1800 – 1900 mm/năm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm 88 – 90% tổng lượng mưa.
Về đa dạng sinh học, khu bảo tồn ghi nhận 488 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 342 chi, 135 họ (Trần Đình Nghĩa và Vũ Công Quỳ, 2004); 39 loài thú thuộc 19 họ; 72 loài chim thuộc 33 họ (đây là điểm duy nhất tại Việt Nam ghi nhận loài Đại bàng Bonelli - Hieraaetus fasciatus); 32 loài lưỡng cư - bò sát; 54 loài cá và côn trùng quý hiếm như Cà cuống (Belostomatidae).
Về kinh tế - xã hội, dân số 7 xã trong khu vực đạt mật độ bình quân 553 người/km², tỷ lệ tăng dân số 1,7%. Vùng lõi có 5 thôn (Vườn Thị, Gọng Vó, Đồi Ngô thuộc xã Gia Hòa; Hoa Tiên, Cọt thuộc xã Gia Hưng) với 438 hộ sinh sống. Kinh tế thuần nông, diện tích đất canh tác ít và chỉ cấy được 1 vụ lúa do lũ lụt, thu nhập bình quân đạt khoảng 1.000.000 đồng/người/tháng. Hoạt động du lịch sinh thái mới hình thành từ năm 2010 và tập trung cục bộ tại thôn Tập Ninh (xã Gia Vân).
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết quả điều tra thực địa tại xã Gia Vân ghi nhận 7 đàn Voọc mông trắng với tổng số 62 cá thể tại 7 vị trí độc lập. Đàn lớn nhất gồm 14 cá thể, đàn nhỏ nhất gồm 7 cá thể, quy mô trung bình đạt khoảng 9 cá thể/đàn (chính xác là 8,86 cá thể/đàn).
| Khu vực bắt gặp |
Đực trưởng thành (ĐT) |
Cái trưởng thành (CT) |
Con non (CN) |
Sơ sinh 1 (SS1) |
Sơ sinh 2 (SS2) |
Sơ sinh 3 (SS3) |
Tổng số cá thể |
| Cánh Cổng |
1 |
7 |
0 |
0 |
0 |
0 |
8 |
| Cửa trạm 7 |
1 |
7 |
0 |
0 |
0 |
0 |
8 |
| Bũng Sốc 1a |
1 |
5 |
1 |
1 |
0 |
1 |
9 |
| Bũng Sốc 1b |
1 |
7 |
0 |
0 |
0 |
0 |
8 |
| Bũng Sốc 2 |
2 |
12 |
0 |
0 |
0 |
0 |
14 |
| Đá An Tái |
1 |
7 |
0 |
0 |
0 |
0 |
8 |
| Hang Bóng |
1 |
6 |
0 |
0 |
0 |
0 |
7 |
| Tổng cộng |
8 |
51 |
1 |
1 |
0 |
1 |
62 |
Về tỷ lệ thành phần theo độ tuổi và giới tính: Cái trưởng thành chiếm ưu thế tuyệt đối với 82% (51 cá thể), Đực trưởng thành chiếm 13% (8 cá thể), Con sơ sinh 1 chiếm 2% (1 cá thể), Con sơ sinh 3 chiếm 2% (1 cá thể), Con non chiếm 1% (1 cá thể), và không ghi nhận cá thể Con sơ sinh 2 (0%). Cấu trúc đàn điển hình là 1 con đực trưởng thành (riêng đàn Bũng Sốc 2 có 2 con đực) đi kèm nhiều con cái trưởng thành và con non.
So sánh cấu trúc tuổi/giới tính với các công trình nghiên cứu linh trưởng trước đây:
| Loài |
Tác giả công bố |
Tỷ lệ ĐT : CT : Cá thể chưa trưởng thành |
Số cá thể trung bình/đàn |
| Voọc mông trắng (T. delacouri) |
Đỗ Văn Linh (2020) |
1,1 : 7,3 : 0,4 |
9 |
| Voọc mông trắng (T. delacouri) |
Nguyễn Vĩnh Thanh (2008) |
12 : 30 : 13 |
8 |
| Voọc Cát Bà (T. poliocephalus) |
Tạ Tuyết Nga (2014) |
1,0 : 3,5 : 4,5 |
9 |
| Voọc Hà Tĩnh (T. hatinhensis) |
Nguyễn Hải Hà (2011) |
3,5 : 5,9 : 1,4 |
12 |
Tỷ lệ cá thể chưa trưởng thành trong nghiên cứu này rất thấp (0,4 cá thể trên mỗi đơn vị nhóm), phản ánh tốc độ gia tăng số lượng cá thể tự nhiên của quần thể tại khu vực hiện không cao.
Về phân bố sinh cảnh: Trong tổng số 12 lần quan sát thấy Voọc mông trắng, có 8 lần ghi nhận tại Rừng thứ sinh trên núi đá vôi (Cửa trạm 7: 1 lần; Bũng Sốc 1a: 2 lần; Bũng Sốc 1b: 3 lần; Bũng Sốc 2: 2 lần) và 4 lần ghi nhận tại Trảng cây bụi thứ sinh thường xanh trên núi đá vôi (Cánh Cổng: 1 lần; Đá An Tái: 1 lần; Hang Bóng: 2 lần). Sinh cảnh Rừng thứ sinh trên núi đá vôi là sinh cảnh sống ưa thích và phổ biến nhất của loài tại khu vực nghiên cứu.
Về các mối đe dọa: Đề tài xác định 5 mối đe dọa chính:
- Săn bắt, bẫy bắt và buôn bán động vật hoang dã (ĐVHD): Mối đe dọa nghiêm trọng nhất. Dù việc săn bắn Voọc đã giảm kể từ khi thành lập khu bảo tồn năm 2001, các hoạt động săn bẫy động vật khác vẫn tồn tại. Ngày 10/02/2020, đoàn điều tra phối hợp kiểm lâm bắt giữ 2 đối tượng dùng súng hơi săn bắn chim nước tại xã Gia Vân. Hoạt động nấu cao và buôn bán động vật hoang dã tại các xã phụ cận (như xã Gia Tiến) vẫn tạo áp lực khai thác lên tài nguyên rừng;
- Khai thác đá cho công nghiệp xi măng: Nhà máy xi măng The Vissai Ninh Bình tại xã Gia Thanh nằm sát ranh giới phía Đông Bắc khu bảo tồn gây tiếng ồn, rung chấn và khói bụi, làm thu hẹp sinh cảnh và đẩy loài Voọc di chuyển lùi sâu vào vùng lõi;
- Phân mảnh quần thể: Địa hình bị chia cắt tự nhiên và nhân tạo làm hạn chế sự giao phối giữa các đàn;
- Chăn thả gia súc: Hoạt động thả dê, trâu bò tự do trên các chân núi và thung lũng làm suy thoái thảm thực vật tầng thấp;
- Phát triển du lịch không bền vững: Lượng khách tăng nhanh gây áp lực xả rác thải và tiếng ồn từ thuyền đò.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận cung cấp các kết quả định lượng cụ thể:
- Xác định được số lượng 62 cá thể Voọc mông trắng phân bố trong 7 đàn tại địa bàn xã Gia Vân thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long.
- Cung cấp số liệu chính xác về cấu trúc đàn với tỷ lệ đực trưởng thành : cái trưởng thành : cá thể chưa trưởng thành đạt 1,1 : 7,3 : 0,4; trong đó cá thể cái chiếm 82%, cá thể đực chiếm 13%, con non và sơ sinh chiếm 5%.
- Xác lập bản đồ phân bố không gian và xác định dạng sinh cảnh cư trú chủ yếu của loài là rừng thứ sinh trên núi đá vôi (chiếm 66,7% tổng số lần quan sát).
- Định danh và phân tích 5 nhóm nguy cơ đe dọa sinh cảnh và quần thể linh trưởng tại địa phương, trong đó xác định việc săn bắt trộm và tiếng ồn từ công nghiệp xi măng là các yếu tố tác động trực tiếp.
- Đề xuất 6 nhóm giải pháp quản trị bảo tồn: (1) Nâng cao năng lực cán bộ và thực thi pháp luật kiểm lâm; (2) Tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng cư dân vùng đệm; (3) Nghiên cứu mở rộng hành lang sinh cảnh cho Voọc mông trắng ra ngoài phạm vi khu bảo tồn hiện tại; (4) Phục hồi sinh cảnh rừng trên núi đá vôi; (5) Quy hoạch và kiểm soát phát triển du lịch sinh thái bền vững; (6) Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học chuyên sâu và xúc tiến hợp tác quốc tế.
Đóng góp khoa học của khóa luận thể hiện ở việc cập nhật số liệu thực địa mới (năm 2020) so với mốc nghiên cứu năm 2008 của Nguyễn Vĩnh Thanh. Kết quả chỉ ra sự thay đổi trong cấu trúc nhóm tuổi: tỷ lệ con non và sơ sinh ghi nhận được sụt giảm tương đối so với tỷ lệ cá thể cái trưởng thành, đưa ra cảnh báo về khả năng tái đàn chậm và nguy cơ suy giảm đa dạng di truyền trong các quần thể nhỏ bị cô lập.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế do tác giả tự ghi nhận:
- Thời gian nghiên cứu ngắn (4 tháng), trong đó giai đoạn ngoại nghiệp thực địa chỉ diễn ra từ ngày 10/02/2020 đến 30/03/2020, chưa bao quát được toàn bộ biến động mùa vụ sinh sản và tập tính của loài qua các thời kỳ thời tiết khác nhau trong năm.
- Không gian khảo sát giới hạn tại xã Gia Vân, chưa mở rộng đồng bộ trên toàn bộ diện tích 2.900 ha thuộc 7 xã của Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long.
- Điều kiện quan sát thực địa bằng thuyền nan từ mặt nước gặp nhiều cản trở về tầm nhìn do vách đá che khuất, tán rừng rậm rạp và tập tính lẩn tránh của động vật hoang dã.
- Kinh phí và tư liệu tham khảo phục vụ đề tài còn hạn chế.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi điều tra giám sát trên toàn thể 7 xã thuộc phân khu bảo tồn Vân Long.
- Thiết lập chương trình giám sát dài hạn nhằm thu thập số liệu biến động cá thể qua các năm và phân tích chuyên sâu về cấu trúc di truyền học quần thể.
- Nghiên cứu chi tiết định lượng về mức độ ô nhiễm tiếng ồn, khói bụi từ Nhà máy xi măng The Vissai và tải lượng rác thải du lịch tác động tới hành vi của loài.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận mang lại giá trị tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học, Bảo tồn đa dạng sinh học và Quản lý môi trường.
- Ban quản lý rừng đặc dụng Hoa Lư – Vân Long, Chi cục Kiểm lâm Ninh Bình và các tổ chức bảo tồn thiên nhiên trong công tác lập kế hoạch giám sát đa dạng sinh học định kỳ.
- Người làm nghiên cứu về linh trưởng có thể tham khảo phương pháp điều tra động vật rừng bằng thuyền nan kết hợp bản đồ GPS tại sinh cảnh đất ngập nước núi đá vôi (Chương 2), bảng tiêu chí nhận diện 6 cấp tuổi/giới tính của giống Trachypithecus (Bảng 2.4), và ma trận đánh giá áp lực đe dọa sinh học theo Margoluis và Salafsky (2001).
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận ghi nhận được bao nhiêu cá thể Voọc mông trắng tại khu vực nghiên cứu?
Nghiên cứu đã ghi nhận chính xác 62 cá thể Voọc mông trắng phân bố thành 7 đàn tại địa bàn xã Gia Vân, thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long. Quy mô đàn biến động từ 7 đến 14 cá thể, trung bình khoảng 9 cá thể/đàn.
Cấu trúc giới tính và độ tuổi của quần thể Voọc mông trắng điều tra có đặc điểm gì nổi bật?
Trong tổng số 62 cá thể, cá thể cái trưởng thành chiếm tỷ lệ áp đảo với 82% (51 cá thể), cá thể đực trưởng thành chiếm 13% (8 cá thể), con sơ sinh 1 chiếm 2% (1 cá thể), con sơ sinh 3 chiếm 2% (1 cá thể), con non chiếm 1% (1 cá thể), và không bắt gặp con sơ sinh 2. Tỷ lệ đực trưởng thành : cái trưởng thành : cá thể chưa trưởng thành là 1,1 : 7,3 : 0,4.
Loài Voọc mông trắng tại Vân Long được ghi nhận chủ yếu ở dạng sinh cảnh nào?
Trong 12 lần quan sát thấy loài ngoài thực địa, có 8 lần ghi nhận tại sinh cảnh Rừng thứ sinh trên núi đá vôi (tại các điểm Cửa trạm 7, Bũng Sốc 1a, Bũng Sốc 1b, Bũng Sốc 2) và 4 lần ghi nhận tại Trảng cây bụi thứ sinh thường xanh trên núi đá vôi (tại Cánh Cổng, Đá An Tái, Hang Bóng). Rừng thứ sinh trên núi đá vôi là sinh cảnh sống và tìm kiếm thức ăn ưa thích của loài.
Những mối đe dọa chính đối với quần thể Voọc mông trắng được tác giả xác định là gì?
Khóa luận xác định 5 mối đe dọa: (1) Săn bắt, bẫy bắt và buôn bán động vật hoang dã; (2) Khai thác đá làm nguyên liệu cho công nghiệp xi măng của Nhà máy The Vissai; (3) Phân mảnh quần thể; (4) Chăn thả gia súc tự do; (5) Phát triển du lịch không bền vững. Trong đó, săn bắt trái phép là mối đe dọa nghiêm trọng nhất.
Tại sao tác giả lại sử dụng thuyền nan để điều tra thay vì đi bộ trên tuyến?
Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long có địa hình đặc thù gồm các khối núi đá vôi dựng đứng sắc nhọn, chân núi bị ngập nước quanh năm tạo thành các đầm lầy sâu. Địa hình này gây nguy hiểm và cô lập việc tiếp cận đường bộ trên vách núi, do đó điều tra bằng thuyền nan với tốc độ 1 - 2 km/h là giải pháp kỹ thuật duy nhất phù hợp để quan sát và ghi nhận linh trưởng dọc các chân núi.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đỗ Văn Linh đã phản ánh hiện trạng quần thể Voọc mông trắng tại xã Gia Vân thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long với 7 đàn và 62 cá thể ghi nhận được qua điều tra thực địa năm 2020. Nghiên cứu xác lập chi tiết cơ cấu tuổi, tỷ lệ giới tính, lập bản đồ phân bố gắn liền với sinh cảnh rừng thứ sinh trên núi đá vôi, đồng thời chỉ ra tỷ lệ con non thấp cảnh báo nguy cơ suy giảm tiềm năng tái đàn. Khóa luận cũng đã nhận diện 5 mối đe dọa sinh thái trực tiếp và đề xuất 6 nhóm giải pháp quản lý kỹ thuật có giá trị ứng dụng cho công tác bảo tồn loài linh trưởng đặc hữu quý hiếm này tại Việt Nam.