Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu về phân loại họ Long não Nghiên cứu phân loại các loài thực vật thuộc chi Long não (Cinnamomum) và họ Long não (Lauraceae) cho đến nay đã có nhiều tác giả. Antoine Laurent de Jussieu là nhà Thực vật học đầu tiên nghiên cứu, phát hiện và đặt tên họ Long não (Lauraceae) từ năm 1789; còn Jacob Christian Schaeffer là người đầu tiên mô tả, đặt tên chi Long não (Cinnamomum) năm 1760.
Họ Long não gồm 54 chi, khoảng 3.500 loài phân bố chủ yếu ở nhiệt đới, á nhiệt đới Bắc, Nam bán cầu; tập trung ở Đông Nam Á và nhiệt đới Châu Mỹ. Long não (Cinnamomum) là một chi lớn trong họ Long não (Lauraceae), gồm tới 250 loài phân bố từ đại lục châu Á đến khắp vùng Đông Nam Á, Australia và khu vực Tây Thái Bình Dương. Tại miền Nam Châu Mỹ chỉ có một số ít loài, nhưng riêng khu vực Malesian đã phát hiện được khoảng 90 loài. Đến nay chỉ có khoảng 150 loài đã được nghiên cứu ở những chừng mực nhất định về từng khía cạnh khác nhau.) là một loài thuộc chi Long não (Cinnamomum), họ Long não (Lauraceae), được xếp trong danh lục đỏ của IUCN (1994) ở phân hạng DD (Data Deficient, ver 2.
Ở Trung Quốc, Xá xị đã được mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái. Các nghiên cứu sâu về loài Xá xị chưa được quan tâm nhiều. Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng, khảo nghiệm giống các loài cây họ Long não (Lauraceae) Bảo tồn nguồn gen cây rừng nói chung và loài cây Xá xị nói riêng là bảo tồn các đa dạng di truyền cần thiết cho các loài cây rừng nhằm phục vụ cho công tác cải thiện giống trước mắt hoặc lâu dài, tại chỗ hoặc nơi khác. 5 Mục đích chính của bảo tồn nguồn gen là giữ được vốn gen lâu dài cho công tác cải thiện giống, nên bảo tồn nguồn gen cho bất cứ một loài thực vật nào trước hết cũng là lưu giữ các đa dạng di truyền vốn có của chúng để làm nền tảng cho công tác chọn giống.
Cải thiện giống là một trong những vấn đề quan trọng bậc nhất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng. Đây là một lĩnh vực nghiên cứu mang tính đột phá, là cơ sở quan trọng quyết định tới sự thành công của công tác trồng rừng. Công tác chọn giống và cải thiện giống được quan tâm từ rất sớm và đã đạt những thành tựu đáng kể. Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của công nghệ sinh học, công tác chọn, tạo giống và cải thiện giống cây rừng có nhiều cơ hội bứt phá để chọn, tạo ra những giống mới, có năng suất cao đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội và thực tiễn sản xuất.
Một số loài thực vật thuộc các chi Long não (Cinnamomum) và chi Bời lời (Litsea) đã được nghiên cứu nhân giống và gieo trồng ở các mức độ khác nhau. Đối với các loài Bời lời như Litsea cubeba, Litsea umbrosa, Litsea citrata. được nhân giống chủ yếu bằng hạt. Ngoài ra, loài Màng tang Litsea cubeba đã có nghiên cứu nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật.
Hiện nay, cũng chưa có công bố nào về nhân giống bằng hom cho các loài thuộc chi Bời lời. Gieo trồng các loài thuộc chi Bời lời đã được thực hiện ở một số nước. Tuy nhiên, các tài liệu về lĩnh vực này còn rất ít được công bố. Đối với chi Long não (Cinnamomum), đã được thực hiện nghiên cứu nhân giống và gieo trồng cho một số loài.
Điển hình như: Long não (Cinnamomum camphora), Re hương (Cinnamomum iners), Cinnamomum kanehirae, Cinnamomum insularimon-tanum. Đối với nhân giống bằng hom, tuỳ từng loài mà tuổi hom, thời gian thu hái, loại chất điều hòa sinh trưởng, loại giá thể, nồng độ hóa chất và thời gian xử lý hóa chất khác nhau. Long não (Cinnamomum camphora): Dùng hom cành tuổi 1 thì tỷ lệ ra rễ cao nhất, và 6 nếu tuổi hom càng thấp hơn thì tỷ lệ ra rễ cũng thấp hơn. Re hương (Cinnamomum iners) và Cinnamomum zeylanicum Breyn: Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, hom cành được thực hiện cho kết quả tốt nhất.
Đối với Cinnamomum kanehirae: hom cành được thu thập ở cây mẹ 14 tuổi, và xử lý bởi IBA 2.000 ppm thì tỷ lệ ra rễ 20 - 26%. Nhân giống hữu tính bằng hạt đã được thực hiện thành công ở loài Long não (Cinnamomum camphora): hạt Long não được bảo quản lạnh ở nhiệt độ 200C, có thể giữ được sức nảy mầm từ 1 - 6 tháng. Hạt được đem gieo càng sớm thì càng tốt, và tỷ lệ nảy mầm của hạt càng cao. Nghiên cứu về chọn lọc cây trội: Theo (Pederson et al, 1993), khảo nghiệm chọn lọc nguồn gen tốt có thể được tiến hành ngay sau giai đoạn loại trừ loài nghĩa là giai đoạn loại trừ loài có thể được đánh giá sau 1/10 - 1/5 luân kỳ thì khảo nghiệm xuất xứ cũng có thể bắt đầu ngay sau đó.
Khảo nghiệm nhiều xuất xứ: Đây là khảo nghiệm nhằm xác định quy mô và kiểu biến dị giữa các xuất xứ của những loài có triển vọng, nhằm chọn ra một số ít xuất xứ có triển vọng nhất, cũng như chỉ ra khu vực không thể lấy hạt và khu vực không thể nhập hạt để gây trồng. Các chương trình cải thiện giống phải được xây dựng cho từng loài cây cụ thể trong từng điều kiện sinh thái cụ thể và phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh cần thiết. Như vậy, có thể nói ba yếu tố chính để tạo nên năng suất rừng là giống được cải thiện, các biện pháp kỹ thuật thâm canh và điều kiện sinh thái phù hợp. Cuối cùng cần phải nói thêm rằng bất cứ một nền sản xuất nông lâm nghiệp nào thì giống cũng phải đi trước một bước.
Riêng đối với cây rừng thì thời gian đi trước trồng rừng ít nhất phải 5 - 10 năm [16. TheoEldridge (1977), Sau khi đã chọn được xuất xứ thích hợp nhất cho mỗi vùng thì bước đi thích hợp nhất là chọn lọc cây trội và gây tạo giống mới. Việc chọn lọc cây trội chủ yếu được tiến hành trong các rừng đồng tuổi nhằm 7 chọn ra những cá thể đáp ứng yêu cầu cao nhất về sản lượng và chất lượng theo mục tiêu kinh tế. Chọn lọc cây trội là khâu quan trọng nhất và quyết định nhất trong quá trình cải thiện giống cây trồng.
Cây trội là nền tảng của một chương trình chọn giống [17]. Do những khó khăn trên mà hướng chọn giống trong lâm nghiệp chủ yếu là sử dụng những biến dị hoặc những thể đột biến tự nhiên, được chọn lọc tự nhiên giữ lại và đã thích ứng với hoàn cảnh của từng vùng. Chính vì vậy mà trong những năm gần đây, việc khảo nghiệm xuất xứ, một phương pháp vận dụng dãy cùng nguồn trong biến dị di truyền, sử dụng các kết quả của sự phát sinh biến dị và chọn lọc tự nhiên trong nhiều thế hệ, kết hợp với việc chọn lọc cây trội, lai giống và nhân giống sinh dưỡng, đã được áp dụng rộng rãi. Tổng quan nghiên cứu trong nước 1.
Nghiên cứu về phân loại họ Long não Nghiên cứu xác định thành phần loài và phân loại họ Long não (Lauraceae) ở Việt Nam phải kể tới các tác giả Lecomte người Pháp (1907 - 1952), Phạm Hoàng Hộ (1992 - 2000), Nguyễn Kim Đào (2002). Phạm Hoàng Hộ năm 1991 đã mô tả tóm tắt cho 40 loài thuộc chi Long não. Nguyễn Kim Đào là người có nhiều nghiên cứu về họ Long não (Lauraceae). Trong cuốn Danh lục các loài thực vật Việt Nam (tập II, năm 2003, trang 65 - 112), họ Long não (Lauraceae) được công bố 257 loài thuộc 21 chi.
Trong đó 8 chi Long não (Cinnamomum) có 44 loài. Chi Long não (Cinnamomum) phân biệt với các chi khác trong họ Long não (Lauraceae) ở chỗ lá thường có 3 gân chính và quả có các thùy bao hoa tồn tại và dày lên ở phía dưới. Xá xị (Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn) là một loài trong số đó. Nghiên cứu về giá trị nguồn gen các loài cây họ Long não Nghiên cứu về giá trị tài nguyên thực vật thuộc chi Long não (Cinnamomum) phải kể tới tập thể các tác giả thuộc Viện Sinh thái & Tài nguyên Sinh vật.
Trong cuốn "Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam" (Lã Đình Mỡi, 2002) đã công bố thành phần hóa học trong tinh dầu của một số loài cây thuộc chi Long não. Ngoài ra, các tác giả cũng đã mô tả công dụng, đặc tính tinh dầu, tình trạng buôn bán quốc tế, khả năng nhân giống và gây trồng, đặc điểm sinh thái, sinh trưởng và phát triển của một số loài thuộc chi Long não. Nghiên cứu về thành phần hóa học của tinh dầu Xá xị đã được thực hiện bởi một số nhà khoa học thuộc Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật và Trường Đại học Dược Hà Nội. Tinh dầu Xá xị có giá trị thương mại rất lớn trên thị trường Quốc tế.
Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái các loài cây họ Long não Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài thuộc họ Long não nói chung và chi Long não nói riêng cho tới nay đã có nhiều công trình. Điển hình như “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học loài Vù hương (Cinnamomum balansae Lecomte) làm cơ sở cho công tác bảo tồn tại rừng đặc dụng Yên Tử - Quảng Ninh” (Phùng Văn Phê, năm 2007). Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống và gây trồng cây Xá xị (Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn.) ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam” (2009 - 2011), Phùng Văn Phê đã bước đầu đánh giá được đặc điểm hình thái, phân bố, sinh học và sinh thái của loài Xá xị ở 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Cao Bằng một cách chi tiết hơn. Cây trưởng thành Xá xị thường có lá đơn nguyên, mọc cách, tập trung ở đầu cành; phiến lá hình 9 trứng ngược hay hình trái xoan thuôn; kích thước 5 - 15 x 2,5 - 8 cm.
Kích thước lá trung bình 6,4x4,6 cm. Về hình thái, đầu lá có mũi nhọn, ngắn; gốc hình nêm hay nêm rộng; hai mặt nhẵn; gân bên 3 - 8 đôi; ở nách gân có tuyến; cuống lá nhẵn dài từ 1 - 3,5 cm, trung bình là 2,2 cm. Đối với cây non, cây tái sinh thì lá thường có hình trái xoan thuôn, hai đầu nhọn dần. Lá thường lớn hơn lá cây trưởng thành nhiều.
Kích thước của lá từ 5 - 14 x 3,8 - 9 cm; trung bình là 9,3x5,7 cm. Hai mặt lá có màu xanh lục, nhẵn. Gân lá nổi rõ ở 2 mặt, thường phẳng theo mặt lá.