CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC MUA BÁN HÀNG HÓA 1. Khái niệm của tranh chấp trong lĩnh vực mua bán hàng hóa và áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại trong lĩnh vực mua bán hàng hóa 1. Khái niệm của tranh chấp trong lĩnh vực mua bán hàng hóa Theo quy định tại khoản 8 Điều 3 LTM năm 2005: mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận. Vậy hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa bên mua và bên bán hàng hóa, theo đó, bên mua và bên bán cùng nhau ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa để bên bán giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hóa, còn bên mua thì có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng cho bên bán để nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa.
Tranh chấp thương mại trong lĩnh vực mua bán hàng hóa là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia trong quan hệ mua bán hàng hóa được ghi nhận trong Hợp đồng mà chủ yếu là liên quan đến việc thực hiện hoặc không thực hiện quyền và nghĩa vụ tự nguyện thỏa thuận. Cũng có thể xảy ra tranh chấp phát sinh từ nội dung của hợp đồng, giải thích từ ngữ trong hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, thực hiện hợp đồng, sửa đổi, bổ sung chấm dứt hợp đồng. Quy định của pháp luật về tranh chấp mua bán mua bán hàng hóa Thứ nhất, quy định về chủ thể tranh chấp thương mại trong lĩnh vực mua bán hàng hóa Tranh chấp thương mại trong lĩnh vực mua bán hàng hóa thường diễn ra giữa các chủ thể có hoạt động mua bán hàng hóa với nhau, thông thường hoạt động mua bán hàng hóa sẽ được thiết lập thông qua hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng chủ yếu là giữa các thương nhân.
Theo LTM 2005: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế 6 được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” [39, Điều 6, Khoản 1]. Như vậy, chủ thể trong tranh chấp thương mại trong lĩnh vực mua bán hàng hóa chính là các thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp; cá nhân hoạt động thương mai một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của HĐ mua bán hàng hóa. Thứ hai, quy định về đối tượng tranh chấp thương mại trong lĩnh vực mua bán hàng hóa Hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa.
Theo quy định của LTM 2005, hàng hóa bao gồm: a) tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; b) những vật gắn liền với đất đai [39, Điều 3, Khoản 2]. Liên quan đến việc quy định hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa, pháp luật của các quốc gia cũng như các điều ước có các quy định khác nhau phù hợp với pháp luật cũng như tập quán của mỗi nước. Tuy nhiên, tất cả đều có xu hướng mở rộng các đối tượng là hàng hóa được phép lưu thông trong thương mại. Thứ ba, quy định về hình thức và nội dung tranh chấp thương mại trong lĩnh vực mua bán hàng hóa * Về hình thức Về hình thức, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thiết lập theo cách thức mà hai bên thể hiện được sự thỏa thuận về việc mua bán hàng hóa giữa các bên.
Pháp luật cho phép các bên có quyền tự thỏa thuận với nhau những điều khoản không trái với quy định của pháp luật. Theo quy định tại LTM 2005 thì: “Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó” [39, Điều 24]. Pháp luật Việt Nam quy định hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.
Trong đó, hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong một số trường hợp pháp luật Việt Nam quy định ngoài việc hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được lập thành văn bản thì còn phải được đăng ký, phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm 7 quyền thì mới có hiệu lực; ngoài ra hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa thì hình thức của hợp đồng cũng bắt buộc phải bằng văn bản. * Về nội dung Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa là các điều khoản do các bên thỏa thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng. Theo đó, bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận tiền; còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán.
Nội dung của hợp đồng nói chung là các điều khoản do các bên thỏa thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng. Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa là các điều khoản do các bên thỏa thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của bên bán và bên mua trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa. Tranh chấp về nội dung của hơp đồng mua bán hàng hóa chính là tranh chấp về những điều khoản về quyền và nghĩa vụ đã được các bên thỏa thuận. Áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp thương mại trong lĩnh vực mua bán hàng hóa 1.
Khái niệm áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp thương mại trong lĩnh vực mua bán hàng hóa Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp thương mại trong lĩnh vực mua bán hàng hóa là một nội dung quan trọng. Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp thương mại trong lĩnh vực mua bán hàng hóa trên địa bàn tỉnh được thực hiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cụ thể ở đây là TAND, người thực hiện hoạt động áp dụng pháp luật là Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong quá trình giải quyết vụ án để ban hành các bản án, quyết định phán quyết các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong mua bán hàng hóa có căn cứ hay không có căn cứ, hợp pháp hay không hợp pháp. Hoạt động áp dụng pháp luật của TAND chính là hoạt động áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp về mua bán hàng hóa khi TAND tiến hành thụ lý, giải quyết theo quy định của pháp luật. Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là những người tiến hành tố tụng hợp thành Hội đồng xét xử của Tòa án.
TAND có quyền nhân danh nước CHXHCN Việt Nam để ra những phán quyết thực hiện công lý xã hội chủ nghĩa theo những nguyên tắc và trình tự nhất định. Hội đồng xét xử của TAND có quyền và có nghĩa vụ nghiên cứu hồ sơ vụ án và tiến hành xét xử, đánh giá tính hợp pháp và tính có căn cứ của các tình tiết sự việc; chọn quy phạm pháp luật phù hợp, 8 chính xác và ban hành các bản án, quyết định theo một quy trình chặt chẽ nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ các quyền hợp pháp của các chủ thể hoặc buộc các chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ của mình đúng theo quy định của pháp luật. Áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại trong lĩnh vực mua bán hàng hóa của TAND là một trong những phương tiện pháp lý trực tiếp và hữu hiệu để giáo dục ý thức pháp luật, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và xây dựng thói quen sử dụng pháp luật bảo vệ các quyền, thực thi các nghĩa vụ của các tầng lớp nhân dân trong xã hội. Với cơ chế xét xử công khai, tranh tụng với một thủ tục chặt chẽ, tỉ mỉ, hoạt động áp dụng pháp luật của TAND có thể nói là một điển hình của việc thực hiện dân chủ và giữ gìn pháp chế trong đời sống xã hội.
Chất lượng áp dụng pháp luật của TAND ở nước ta phản ánh việc thực hiện công lý, công bằng xã hội của chế độ xã hội chủ nghĩa, của Nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, nhiệm vụ của TAND các cấp không chỉ lo hoàn thành việc xét xử các vụ án đúng hạn luật định mà quan trọng hơn là phải thực hiện cho được công lý xã hội chủ nghĩa và công bằng xã hội, phải bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tài sản của Nhà nước; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân và hướng vào việc thực hiện mục tiêu chung của toàn dân tộc là bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội đúng theo đường lối, cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp thương mại trong lĩnh vực mua bán hàng hóa 1. Nguyên tắc áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại trong lĩnh vực mua bán hàng hóa được thực hiện bằng quyền lực nhà nước Trong việc thực hiện quyền của mình, TAND là cơ quan xét xử, với việc thực hiện chức năng xét xử các vụ án, TAND có nhiệm vụ cùng với các cơ quan tư pháp khác, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ pháp chế và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân nói chung và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các bên trong mua bán hàng hóa nói riêng.
Là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử các tranh chấp về mua bán hàng hóa, TAND có quyền phán quyết cuối cùng để phân xử, giải quyết các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quan hệ pháp luật thường ngày. Trong hoạt động của mình, TAND phải tuân thủ các nguyên tắc chung của tổ chức và hoạt động bộ máy Nhà nước Nhà nước, các nguyên tắc của tổ 9 chức và hoạt động tư pháp và các nguyên tắc đặc trưng cho giải quyết.