CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VẺ GIẢI QUYÉT TRANH CHÁP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI VÀ PHÁP LUẬT VE GIẢI QUYÉT TRANH CHAP THUONG MẠI BANG TRỌNG TÀI 1. Khái quát về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài 1. Khái niệm, đặc diém giải quyết tranh chấp thương mai bằng trọng tài 1. Tranh chấp thương mai và giải quyết tranh chấp thương mai Từ khi thực hiện “Đổi mới”, các hoạt động thương mại tại Việt Nam diễn ra thường xuyên hơn, các tranh chấp từ hoạt động thương mại cũng bắt đâu phát sinh ngày càng tăng, trong khi hệ thống pháp luật Việt Nam thời kỳ nảy chưa có một khái niệm nao dé biểu đạt cho các loại tranh chấp này.
Tuy nhiên, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Nghị định số 116/CP ngày 05/9/1994 của Chính phủ vẻ tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế đã quy định liệt kê các loại tranh chấp được coi là tranh chấp kinh tế thuộc thâm quyển giải quyết của Tòa án kinh tế vả Trọng tài kinh tế theo quy định tại Nghị định số 116/CP ngày 05/9/1994 về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế. Từ việc Nhà nước ban hành văn bản pháp luật dé điều chỉnh các quan hệ kinh tế, trong đời sống kinh tế xã hội xuất hiện khái niệm “tranh chấp kinh tế” đồng thời với khái niệm “tranh chấp hợp đồng kinh tế”. Với hàm ý tiếp cận nảy, “tranh chấp kinh tế” có nội hàm rộng hơn “tranh chấp hợp đồng kinh tế” bởi nó được hiểu bao gồm tất cả các tranh chấp có nội dung liên quan đến kinh tế, chứ không đơn thuần là các loại tranh chấp được liệt kê để xác định thâm quyên giải quyết như các điều luật nêu trên, ngược lại “tranh chấp hợp đồng kinh tế” lại mang nội hàm rất hẹp, chỉ những giao dịch từ hoạt động thương mại có xác lập hợp đồng thì khi tranh chấp phát sinh, mới được coi là “tranh chấp hợp đồng kinh tế”, từ đó tạo nên sự bat tương thích giữa nội hàm của khái niệm với hàm ý được tiếp cận. Trong thời đại kinh tế thị trường, cùng với sự phát triển về kinh tế, các giao dịch trong hoạt động thương mại ngày càng trở nên đa dạng, phong phú và phức tạp.
Khi các doanh nghiệp ngày càng có điều kiện được thành lập với nhiều hình thức khác nhau trong nhiều ngành nghề khác nhau thì việc liên kết, hợp tác hay thậm chí là cạnh tranh với nhau cũng ngày càng trở nên phô biến và da dang. Trong mối quan hệ nảy, bên cạnh những quyên và lợi ích có được, con có những xung đột, bất đồng vé vi phạm quyền lợi lẫn nhau giữa các doanh nghiệp, từ đó thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh” hay “tranh chấp thương mại” là những thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở các nước trên thế giới và được sử dụng phổ biến, rộng rãi ở Việt Nam trong thời gian gần đây. Thuật ngữ "tranh chấp về kinh doanh, thương mại" được dùng trong Bộ luật Tố tụng dân sự dé chỉ rộng hơn các tình huống tranh chấp phát sinh trong quan hệ kinh doanh vả thương mại, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Cách phân loại này nhằm phản ánh một cách toàn diện hơn các hoạt động kinh doanh và thương mại, từ sản xuất đến tiêu thụ, bao gồm cả việc thực hiện dịch vụ và đầu tư, với mục đích sinh lợi.
Điều nảy giúp xác định rõ chủ thé tham gia và mục đích của các hoạt động, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân biệt các tranh chấp này với các loại tranh chấp khác. Mặc dù có ý kiến cho rằng việc sử dụng cả hai thuật ngữ "kinh doanh" và "thương mại" có phần thừa thãi vả dài dòng, nhưng sự kết hợp này lại nhắn mạnh tới sự mở rộng về mặt chủ thé va hoạt động kinh tế, làm cho khái niệm trở nên bao quát và phù hợp với thực tiễn pháp lý hiện hành. Dựa vào những phân tích đã trình bày, có thé hiểu khái niệm tranh chấp thương mại là các van dé phát sinh giữa những thương nhân (cả cá nhân lẫn t6 chức đăng ký kinh doanh) liên quan đến hoạt động dau tu, san xuất, phân phối sản phẩm hay cung cấp dịch vụ với mục đích lợi nhuận. Đây là những mâu thuẫn xuất phát từ việc không đồng thuận hoặc xung đột về quyên lợi hợp pháp giữa các bên liên quan, bắt đầu từ khi bước vào, duy trì hoạt động thương mại cho tới khi kết thúc mối quan hệ kinh doanh.
Từ đó, có thể hiểu giải quyết tranh chấp thương mại là việc các cá nhân và t6 chức kinh doanh lựa chọn sử dung các biện pháp và phương thức được pháp luật cho phép nhằm giải quyết, hóa giải các tranh chấp đã xảy ra, nhằm hướng tới việc giảm thiếu mâu thudn và xung đột, với mục tiễu tim ra giải pháp chấp nhận được cho cả hai bên và đảm bảo việc tuân thủ một cách tự nguyện. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại Trọng tài, xét về mặt ngữ nghĩa được hiểu là tài phán trung lập, chi người thứ ba được cử làm trung gian dé phân xử sự bất đồng giữa các bên khi có tranh chấp. Trong lĩnh vực thương mai, trọng tài trở thành một phương thức giải quyết tranh chấp xuất phat từ hoạt động thương mại và dé đáp ứng yêu cầu của giải quyết tranh chấp trong thương mại của thương nhân. Giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba ban đầu chỉ dừng lại ở việc xem xét vụ việc và đưa ra khuyến nghị, ý kiến mang tính chất tham khảo.
Về sau, dé giải quyết tranh chấp dứt điểm, nhanh chóng thi các bên trao cho bên thứ ba quyển quyết định, đưa ra phán quyết về nội dung của tranh chấp. Cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội trọng tải dần trở thành một phương thức giải quyết tranh chấp phô biến và được pháp luật thừa nhận là một phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại. Trong khoa học pháp ly, trọng tai được nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau, nhưng chu yếu là trên hai phương diện: trọng tai là một thiết chế dé giải quyết tranh chấp và trọng tài là một phương thức dé giải quyết tranh chap’. 1 Nguyễn Hong Bắc (2012), “Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tải ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, tr.
110 10 Với phương diện là một phương thức giải quyết tranh chấp trọng tải được biết đến với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba. Là phương thức vừa thê hiện tính tự do thỏa thuận, ôn hòa như các hình thức, thương lượng, hòa giải vừa thê hiện tính cưỡng chế bắt buộc. Nên có thê nói đây là phương thức mang tính chất trung hòa. Điều nảy thé hiện ở cách tiếp cận khái niệm trọng tài của pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật quốc tế.
Luật mẫu về TTTM quốc tế của UNCITRAL quy định: “Trọng tai nghĩa là mọi hình thức trọng tài có hoặc không có giám sát của một tổ chức trọng tai thường trực”. Pháp luật Việt Nam cũng có cách tiếp cận tương tự khi khoản 1 điều 2 Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 quy định: Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và tiến hành theo trình tự, thủ tục do Pháp lệnh Trọng tài thương mại quy định. Trọng tài còn được xem xét với vai trò là một thiết chế để giải quyết tranh chấp, một cơ quan tổn tại độc lập với Tòa án và các cơ quan nha nước khác. Được biểu hiện bằng sự tốn tại và hoạt động của trọng tài quy chế dưới dang các trung tâm trong tai, hiệp hội trọng tài.
Nếu tiếp cận theo hướng này thi sẽ bỏ sót một hình thức trọng tai quan trong là trọng tai vụ việc (trong tai add hod). Do đó, cách tiếp cận này hiện nay không được dé cập đến nhiều bởi nó chỉ thiên về mặt hình thức không phản ánh đây đủ bản chất của trọng tài”. Như vậy có thé định nghĩa: Trọng tải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại thông qua hoạt động của trọng tải viên với tư cách là bên thứ ba độc lập, nhằm chấm dứt xung đột bằng cách đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc, trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên. Trọng tài thương mại có các hình thức sau (i) Trọng tai quy chế.
Trên toàn thé giới, trọng tài quy chế thường được > TS Nguyễn Dinh Thơ (2007), Hoàn thiện pháp luật Trọng tai thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế, Luận án Tiên sỹ, Đại học Luật Hà Nội, tr. 11 thiết lập theo nhiều hình thức khác nhau như Trung tâm trọng tài (chẳng hạn ở Singapore và Australia), Hiệp hội trọng tài (như ở Hoa Ky và Nhật Bản), hoặc Viện trọng tai (như ở Thụy Điền và Thái Lan). Tuy nhiên, hình thức phô biến và chính yếu của trọng tài quy chế là các trung tâm trọng tài. Ở Việt Nam, hoạt động trọng tài quy chế được thực hiện thông qua các trung tâm trọng tài.
Các trung tâm này có thê là đơn vị liên kết với một tổ chức cụ thê hoặc là trung tâm trọng tài độc lập. Mỗi trung tâm có bộ quy tắc tô tụng và điều lệ hoạt động riêng, được xây dựng dựa trên quy định của pháp luật về trọng tài và tính chất đặc thù của từng trung tâm. Trong quá trình giải quyết tranh chấp tại những trung tâm nay, các bên có thé chọn trọng tai viên từ danh sách do trung tâm cung cấp và quyết định luật pháp nao sẽ được áp dung dé giải quyết tranh chấp. (1) Trọng tài vụ việc.
Pháp lệnh Trọng tai thương mại 2003 là tài liệu pháp lý đầu tiên chỉ tiết hóa cách thức thành lập trọng tài, quy trình tố tụng, giá trị của phán quyết trọng tải, cũng như các biện pháp đảm bảo thi hành phán quyết trọng tài vụ việc. Các quy định này sau đó được tiếp nối trong Luật Trọng tài thương mại 2010. Trọng tài vụ việc là loại hình trọng tài được thành lập dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên tranh chấp để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thê và sẽ kết thúc sau khi vụ tranh chấp được giải quyết. Trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng đặc thù của riêng mình.
Các bên tranh chấp có thê áp dụng quy tắc tố tụng của một trung tâm trọng tải hoặc tự thiết lập quy tắc tố tụng của mình.