Đặt vấn đề Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực quan trọng chỉ sau lúa và ngô. Để phục vụ cho chiến lược phát triển sản xuất sắn cần có nghiên cứu áp dụng đồng bộ kỹ thuật bằng giống, kỹ thuật và canh tác bền vững ở Việt Nam, việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật có ý nghĩa quan trọng. Trong các yếu tố kỹ thuật làm lên năng suất cây trồng thì thời vụ là một trong những yếu tố làm tăng năng suất cao, phân bón ảnh hưởng đến 30,7%, thời tiết thuận lợi 15%, sử dụng giống lai 8%, tưới tiêu 5%. Do còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng tới thời vụ, và mỗi vùng sinh thái địa hình lại có một thời vụ khác nhau.
Sắn là cây trồng có nhiều công dụng trong chế biến công nghiệp, tinh bột sắn có những ứng dụng hết sức rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm, dược liệu, công nghiệp lên men. Củ, thân và lá sắn đều có nhiều công dụng thiết thực, củ sắn được dùng để chế biến tinh bột, sắn lát khô, bột sắn nghiền, từ sắn củ tươi hoặc từ các sản phẩm sắn sơ chế tạo thành hàng loạt các sản phẩm công nghiệp như bột ngọt, rượu cồn, mì ăn liền, gluco, xiro, bánh kẹo, mạch nha, kỹ nghệ chất dính (hồ vải, dán gỗ), phụ gia thực phẩm, phụ gia dược phẩm… là những hướng chính trong chế biến sắn công nghiệp. Thân sắn dùng để làm giống, nguyên liệu cho công nghiệp xenlulô, làm nấm., bột sắn thô phối trộn với cám ngô, cám gạo, bánh dầu, bột cá,… để làm thức ăn tổng hợp. Đặc biệt trong thời gian tới, sắn là nguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol).
Yên Bái với hơn khoảng 15 nghìn ha chuyên sản xuất sắn củ và được tập trung chủ yếu tại huyện Văn Yên hơn 6,8 nghìn ha, huyện Yên Bình gần 3,5 nghìn ha, hàng năm cây sắn góp phần không nhỏ vào việc giúp người dân tỉnh Yên Bái thoát nghèo. Và hiện này trên địa bàn tỉnh Yên Bái có ba nhà Luan van 2 máy chế biến tinh bột sắn. Hàng năm thu mua hơn 200 nghìn tấn sắn củ tươi. Là vùng sản xuất nguyên liệu sắn khá tốt, nhưng năng suất bình quân chỉ đạt từ 18-22 tấn/ha, do chưa có bộ giống sắn năng suất cao, chất lượng tốt, thời vụ trồng thích hợp cho từng vùng trồng sắn trong tỉnh.
Hiện người dân đang trồng sắn lá tre sắn dù KM94 đang bị thoái hóa phân cành và có các triệu chứng bị nhiễm bệnh chồi rồng (Phytoplasma), làm cho năng suất sụt giảm, khiến bà con gặp khó khăn. Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó đề tài cấp tỉnh thực hiện năm 2016 đã tiến hành đánh giá và lựa chọn được 2 giống sắn mới là KM419 với BKA900 có đặc tính tốt phù hợp với điều kiện sinh thái tại Yên Bái để bổ sung nguồn giống cho sản xuất. Để giống phát huy hiệu quả trong điều kiện sinh thái nhất định, cần nghiên cứu và tìm các biện pháp kĩ thuật canh tác phù hợp. Từ những yêu cầu đó chúng em thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ đến khả năng sinh trưởng và phát triển của hai giống sắn BKA900 và KM419 tại xã Đông Cuông huyện Văn Yên-Yên Bái”.
Mục đích nghiên cứu đề tài Xác định được thời vụ trồng thích hợp nhằm đạt được năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao cho giống sắn mới tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá được khả năng sinh trưởng của 2 giống sắn trồng ở các thời vụ khác nhau. - Đánh giá được tình hình sâu bệnh hại trên 2 giống sắn trồng ở các thời vụ khác nhau. - Đánh giá được các yếu tố cấu thành năng suất của 2 giống sắn mới trồng ở các thời vụ khác nhau.
- Đánh giá được năng suất của 2 giống sắn mới trồng ở các thời vụ khác nhau. Luan van 3 - Đánh giá được chất lượng củ của 2 giống sắn mới trồng ở các thời vụ khác nhau. - Sơ bộ hoạch toán kinh tế của 2 giống sắn mới trồng ở các thời vụ khác nhau.Ý nghĩa của đề tài 1.Ý nghĩa khoa học - Làm cơ sở khoa để xác định được thời vụ trồng sắn thích hợp. Nhằm hoàn thiện quy trình canh tác bền vững sắn ở huyện Văn Yên - Kết quả nghiên cứu cửa đề tài sẽ góp phần làm tài liệu giảng dạy.
Học tập, nghiên cứu khoa học, tập huấn và chỉ đạo sẳn xuất sắn.Ý nghĩa thực tiễn - Là cơ sở để khuyến cáo và xác định kỹ thuật, thời vụ và giống thích hợp với điều kiện sinh thái, sự phát triển của cây sắn ở tỉnh Yên Bái và các tỉnh lân cận. Nhằm giúp người dân nâng cao năng suất và chất lượng sắn, giúp tăng thu nhập cho người dân. Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. NGUỒN GỐC, GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA CÂY SẮN 2.
Nguồn gốc Cây sắn có tên khoa học là (Manihot esculenta Crantzc) có hoa hạt kín, có 2 lá mầm và thuộc họ thầu dầu có tới hơn 300 chi và 8000 loài phân thành 17 nhóm, có bộ nhiễm sắc thể 2n = 36. Nhiều tài liệu cho biết cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của Châu Mỹ La Tinh (Crantz,1976) và được trồng cách đây khoảng 5000 năm (CIAT, 2004) [16]. Trung tâm phát sinh cây sắn được giả thuyết tại Đông Bắc Braxil thuộc lưu vực sông Amazon nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và hoang dại (De Candolle 1886; Roger 1965). Trung tâm phân hoá phụ có thể tại Mexico, Trung Mỹ và ven biển phía bắc Nam Mỹ.
Bằng chứng là những di tích khảo cổ ở Venezuella niên đại 2700 năm trước công nguyên. Những lò nướng bánh sắn trong phức hệ Malabo ở phía Bắc Colombia niên đại 1200 năm trước công nguyên. Hiện nay sắn được trồng trên 100 nước của vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới tập trung nhiều ở Châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ là nguồn lương thực của hơn 500 triệu người (CIAT,2004) [16]. Cây sắn được du nhập vào Châu Á khoảng thế kỉ 17 (P.Sikurajapathy, 1992) theo hai con đường: Thứ nhất vào Ấn Độ sau đó sang Trung Quốc, Myanmar, Philippin, Indonesia rồi lan dần sang các nước khác.
Cuối thế kỉ 19 nghề trồng sắn mới trở nên quan trọng ở Châu Á. Cây sắn được du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỉ 18 (Phạm Văn Biên và Hoàng Kim, 1991) [1]. Sắn được canh tác phổ biến tại hầu hết các tỉnh của Việt Nam từ Bắc đến Nam. Diện tích sắn trồng nhiều nhất ở vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, vùng núi và trung du phía Bắc và ven biển Nam Trung Bộ, ven biển Bắc Trung Bộ.
Giá trị dinh dưỡng Theo số liệu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp thế giới (FAO), hàm lượng dinh dưỡng trong củ sắn (tính trên 100 gam phần ăn được) như sau: Nước : 65,5% Protein : 1,0% Lipit : 0,2% Xenlulose : 1,2% Tinh bột : 32,1% Trong protein của sắn có tương đối đầy đủ các acid amin ( nhất là 9 acid amin không thay thế được cần thiết cho con người) đặc biệt hai acid amin quan trọng là Lizin và Tritophan có đủ để cung cấp cho nhu cầu của cả trẻ em và người lớn.1: Thành phần dinh dưỡng và hóa học trong một số loại cây trồng dùng làm thức ăn cho gia súc Năng lượng Chất Protein Xơ Tên thức ăn Canxi Photpho trao đổi khô thô thô (%) (%) (Kcal/đvtă) (%) (%) (%) Thân lá cỏ voi non 11,80 2,20 3,20 0,04 0,02 240 Cây ngô non 13,10 1,40 3,40 0,08 0,03 285 Lá cây keo dậu 25,53 6,94 3,63 0,37 0,07 707 Lá cỏ Stylo 20,10 4,10 3,30 0,40 0,04 484 Rau muống 10,60 2,10 1,60 0,12 0,05 270 Củ sắn cả vỏ 27,70 0,90 1,00 0,05 0,04 968 Lá sắn 25,74 6,59 3,82 0,30 0,09 726 Bột lá sắn 89,66 20,57 13,98 1,10 0,63 2349 Bã sắn ướt 20,36 0,50 1,71 0,04 0,03 468 (Nguồn: FeedPig/2001_VCN 30/12/2000 Viện chăn nuôi) Luan van 6 Qua số liệu ở bảng 2.1 ta thấy lượng vật chất khô của củ sắn cả vỏ, lá sắn, bột lá sắn, bã sắn ướt đều cao hơn so với một số cây dùng làm thức ăn cho gia súc khác. Đặc biệt trong củ sắn cả vỏ có hàm lượng chất khô, protein thô, xơ thô, canxi, photpho và năng lượng trao đổi đều cao hơn hẳn so với các loại thức ăn khác. Điều này chứng tỏ thành phần dinh dưỡng trong củ sắn là rất cao, đáp ứng được nhu cầu trong khẩu phần ăn của vật nuôi. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới và Việt Nam 2.
Tình hình sản xuất sắn trên thế giới Theo tổ chức Nông lương thế giới (FAO) xếp cây sắn là cây lương thực quan trọng thứ 4 ở các nước đang phát triển sau lúa gạo, ngô, lúa mì. Ngày nay cây sắn được trồng rộng rãi ở 300 Bắc đến 300 Nam và được trồng ở trên 100 nước nhiệt đới thuộc ba châu lục lớn là châu Phi, châu Mĩ và châu Á. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới được thể hiện ở bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới từ năm 2012 - 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2012 23,26 11,23 261,43 2013 23,67 11,04 261,51 2014 23,20 11,82 274,33 2015 23,46 11,78 276,60 2016 23,48 11,80 277,10 (Nguồn: FAOSTAT, 2018) [17] Qua số liệu ở bảng 2.2 ta thấy Về diện tích: diện tích canh tác sắn trong những năm gần đây dao động từ 23,20 - 23,67 triệu ha và đang có xu hướng ổn định qua các năm. Diện tích trồng sắn đạt cao nhất năm 2013 với 23,67 triệu ha và thấp nhất là năm 2014 Luan van 7 với 23,20 triệu ha.
So với năm 2012 đến năm 2016 diện tích trồng sắn chỉ tăng 0,22 ha. Về năng suất: năng suất sắn trên thế giới có nhiều biến động giai đoạn từ năm 2012 - 2016, năng suất dao động từ 11,04 - 11,82 tấn/ha. Năng suất thấp nhất vào năm 2013 (11,04 tấn/ha) và đạt cao nhất năm 2014 (11,82 tấn/ha). Năng suất sắn giảm mạnh năm 2013, từ 11,23 tấn/ha (năm 2012) xuống còn 11,04 tấn/ha (năm 2013), giảm 0,19 tấn/ha.
Và ngay sau đó năm 2014 năng suất đã đạt 11,82 tấn/ha và đạt mức năng suất cao nhất từ 2012 - 2016. Về sản lượng: sản lượng sắn trên thế giới tăng dần qua các năm trong giai đoạn 2012 - 2016 theo xu hướng của diện tích dù năng suất có nhiều biến động. Sản lượng tăng từ 261,43 - 277,10 triệu tấn. Sản lượng tăng mạnh nhất từ năm 2013 - 2014, tăng từ 261,51 triệu tấn lên 274,33 triệu tấn, tăng 12,82 triệu tấn, tương đương 4,9% so với năm trước.