Luận Văn: Ảnh Hưởng Của Sóng Siêu Âm Đến Quá Trình Biến Tính Than Hoạt Tính Bằng Axit Sulfuric

Luận văn nghiên cứu tác động của sóng siêu âm lên quá trình biến tính than hoạt tính bằng axit sulfuric, phân tích hiệu quả và ứng dụng thực tiễn.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2016

58
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Kim loại nặng và ảnh hưởng của chúng đến môi trường và con người

1.2. Ô nhiễm nước do kim loại nặng và một số nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng

1.3. Ảnh hưởng của kim loại nặng đến môi trường và con người

1.4. Các phương pháp xử lý nguồn nước bị ô nhiễm kim loại nặng

1.4.1. Phương pháp sinh học

1.4.2. Phương pháp hóa lý

1.5. Giới thiệu vật liệu hấp phụ - Than hoạt tính

1.5.1. Phương pháp biến tính than hoạt tính

1.5.2. Giới thiệu vật liệu hấp phụ

1.5.3. Than hoạt tính

1.5.4. Cấu trúc bề mặt than hoạt tính

1.5.5. Nhóm cacbon – ôxy trên bề mặt than và ảnh hưởng của nó

1.5.6. Giới thiệu phương pháp biến tính than hoạt tính

1.5.7. Biến tính than hoạt tính bằng axit sulfuric

1.5.8. Sóng siêu âm và ảnh hưởng của nó đến quá trình hấp phụ

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Mục tiêu nghiên cứu

2.3. Dụng cụ thiết bị, hóa chất cần thiết cho nghiên cứu

2.3.1. Dụng cụ thiết bị

2.3.2. Chuẩn bị dung dịch thí nghiệm

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp xác định các ion trong dung dịch

2.4.2. Xác định nồng độ Sắt

2.4.3. Xác định nồng độ Mangan

2.4.4. Phương pháp xử lý than hoạt tính

2.4.5. Khảo sát khả năng hấp phụ của than nguyên liệu và các mẫu than sau xử lý

2.4.6. Xác định hiệu suất hấp phụ của than trong trạng thái tĩnh

2.4.7. Xác định hiệu suất hấp phụ của than trong trạng thái động

2.4.8. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ của các mẫu than

2.4.9. Xác định diện tích bề mặt của than

2.4.10. Xác định tổng số tâm axit trên bề mặt than

2.4.11. Ảnh hưởng tải trọng hấp phụ đến khả năng hấp phụ của các mẫu than

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ của các mẫu than

3.2. Xác định diện tích bề mặt của than

3.3. Xác định tổng số tâm axit trên bề mặt than

3.4. Khảo sát khả năng hấp phụ của các mẫu than

3.5. Khảo sát ảnh hưởng của tải trọng hấp phụ đến khả năng hấp phụ than trong trạng thái tĩnh

3.6. Khảo sát ảnh hưởng của tải trọng hấp phụ đến khả năng hấp phụ Sắt

3.7. Khảo sát ảnh hưởng của tải trọng hấp phụ đến khả năng hấp phụ Mangan

3.8. Khảo sát ảnh hưởng của thời gian đến khả năng hấp phụ của than trong trạng thái động

3.9. Khảo sát ảnh hưởng của thời gian đến khả năng hấp phụ Sắt

3.10. Khảo sát ảnh hưởng của thời gian đến khả năng hấp phụ Mangan

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về sóng siêu âm và biến tính than hoạt tính

Sóng siêu âm là một dạng sóng âm thanh có tần số cao hơn tần số nghe của con người. Trong nghiên cứu này, sóng siêu âm được ứng dụng để cải thiện quá trình biến tính than hoạt tính bằng axit sulfuric. Biến tính than hoạt tính là quá trình làm tăng khả năng hấp phụ của than, giúp nó có thể hấp thụ các cation như Fe3+ và Mn2+ trong nước. Việc sử dụng sóng siêu âm trong quá trình này có thể tạo ra các hiệu ứng vật lý và hóa học, làm tăng diện tích bề mặt và số lượng tâm axit trên bề mặt than. Theo nghiên cứu, sóng siêu âm có thể làm tăng tốc độ phản ứng và cải thiện hiệu suất hấp phụ của than hoạt tính. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xử lý nước ô nhiễm, đặc biệt là nước chứa kim loại nặng.

1.1. Ảnh hưởng của sóng siêu âm đến quá trình biến tính

Nghiên cứu cho thấy rằng sóng siêu âm có thể làm tăng đáng kể diện tích bề mặt riêng của than hoạt tính. Khi áp dụng sóng siêu âm, các bọt khí nhỏ được tạo ra trong dung dịch, giúp tăng cường sự khuấy trộn và tiếp xúc giữa than và axit sulfuric. Kết quả là, tổng số tâm axit trên bề mặt than cũng tăng lên, từ đó nâng cao khả năng hấp phụ của than đối với các ion kim loại. Việc khảo sát các yếu tố như thời gian và cường độ của sóng siêu âm cũng cho thấy rằng thời gian siêu âm lâu hơn có thể dẫn đến sự gia tăng hiệu suất hấp phụ. Điều này mở ra hướng đi mới trong việc tối ưu hóa quy trình xử lý nước ô nhiễm bằng than hoạt tính.

II. Phương pháp nghiên cứu và thực nghiệm

Để thực hiện nghiên cứu, các phương pháp thực nghiệm được áp dụng bao gồm khảo sát khả năng hấp phụ của than hoạt tính trước và sau khi biến tính bằng axit sulfuric dưới tác động của sóng siêu âm. Các mẫu than được xử lý và phân tích để xác định diện tích bề mặt riêng và tổng số tâm axit. Các chỉ tiêu như nồng độ Fe3+ và Mn2+ trong dung dịch sau hấp phụ cũng được theo dõi. Kết quả cho thấy rằng việc sử dụng sóng siêu âm không chỉ làm tăng diện tích bề mặt mà còn cải thiện đáng kể khả năng hấp phụ của than hoạt tính. Điều này chứng tỏ rằng sóng siêu âm có thể được ứng dụng hiệu quả trong ngành xử lý nước thải.

2.1. Thiết bị và hóa chất sử dụng

Trong nghiên cứu này, các thiết bị như máy siêu âm, máy đo diện tích bề mặt và các dụng cụ phân tích hóa học được sử dụng. Axit sulfuric là hóa chất chính trong quá trình biến tính than hoạt tính. Các mẫu than hoạt tính được chuẩn bị và xử lý theo các phương pháp tiêu chuẩn để đảm bảo tính chính xác của kết quả. Việc lựa chọn thiết bị và hóa chất phù hợp là rất quan trọng để đạt được kết quả nghiên cứu chính xác và đáng tin cậy.

III. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sóng siêu âm có ảnh hưởng tích cực đến quá trình biến tính than hoạt tính. Diện tích bề mặt riêng của than hoạt tính tăng lên đáng kể sau khi xử lý bằng axit sulfuricsóng siêu âm. Các số liệu thực nghiệm cho thấy rằng khả năng hấp phụ của than đối với các ion kim loại cũng được cải thiện rõ rệt. Điều này có thể được giải thích bởi sự gia tăng số lượng tâm axit trên bề mặt than, giúp tăng cường khả năng tương tác với các ion trong dung dịch. Kết quả này không chỉ có giá trị trong nghiên cứu lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc xử lý nước ô nhiễm, đặc biệt là nước chứa kim loại nặng.

3.1. Đánh giá hiệu quả của quá trình biến tính

Đánh giá hiệu quả của quá trình biến tính cho thấy rằng việc sử dụng sóng siêu âm kết hợp với axit sulfuric mang lại kết quả khả quan. Các mẫu than sau khi biến tính cho thấy khả năng hấp phụ cao hơn so với mẫu than chưa qua xử lý. Điều này chứng tỏ rằng sóng siêu âm không chỉ làm tăng diện tích bề mặt mà còn cải thiện tính chất hóa học của than, từ đó nâng cao hiệu suất hấp phụ. Kết quả này mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các phương pháp xử lý nước ô nhiễm hiệu quả hơn.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 – TỔNG QUAN 1. Kim loại nặng và ảnh hưởng của chúng đến môi trường và con người 1. Kim loại nặng Kim loại nặng là những kim loại có khối lượng riêng lớn hơn 5 g/cm3. Chúng có thể tồn tại trong khí quyển (dạng hơi), thủy quyển (các muối hòa tan), địa quyển (dạng rắn không tan, khoáng, quặng.) và sinh quyển (trong cơ thể con người, động thực vật).

Cũng như các nguyên tố khác, các kim loại nặng có thể cần thiết hoặc không cần thiết đối với động thực vật. Những kim loại cần thiết cho sinh vật chỉ có nghĩa khi nó ở một hàm lượng nhất định và một khi hàm lượng ít hơn hoặc nhiều hơn lượng cần thiết thì chúng gây ra các tác động ngược lại. Những kim loại không cần thiết cho cơ thể sinh vật đi vào cơ thể sinh vật dù là lượng rất nhỏ cũng gây ra tác động độc hại. Là những nguyên tố vi lượng hết sức cần thiết cho cơ thể người khi các kim loại nặng ở hàm lượng nhỏ.

Tồn tại một khoảng hàm lượng tối ưu của kim loại và chỉ có ở giá trị này nó mới có tác dụng tích cực lên sự phát triển cấu thành nên các enzym, các vitamin và sản phẩm của quá trình trao đổi chất. Nếu ít hơn sẽ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nếu nhiều hơn sẽ gây độc [1]. Ô nhiễm nước do kim loại nặng và một số nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng Hiện nay, các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ ngày càng trên đà phát triển mạnh mẽ gắn liền với tình trạng ô nhiễm gia tăng bởi các nguồn thải khác nhau. Nguồn thải ra từ các ngành công nghiệp làm ô nhiễm kim loại nặng là mối đe dọa nghiêm trọng đối với sức khỏe người dân và sự an toàn của hệ sinh thái.

Các ngành công nghiệp đổ chất thải chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu trực tiếp ra môi trường. Các lưu vực nước gần khu công nghiệp , các thành phố lớn và khu vực khai thác khoáng sản thường gặp hiện tượng nước bị ô Sinh viên: Trần Ngọc Ánh –MT1601 Page 2 Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng nhiễm kim loại nặng. Ô nhiễm kim loại nặng trong nước là nồng độ các kim loại nặng trong nước cao hơn ngưỡng cho phép. Trong một số trường hợp, xuất hiện hiện tượng cá và thủy sinh vật chết hàng loạt.

Ô nhiễm kim loại nặng trong nước có tác động tiêu cực đến môi trường sống của sinh vật và con người. Kim loại nặng tích lũy theo chuỗi thức ăn thâm nhập vào cơ thể người. Trên thế giới, tình hình ô nhiễm kim loại nặng diễn ra ở cả các nước phát triển và các nước đang phát triển và theo chiều hướng ngày càng xấu đi. Các sự cố nhiễm độc kim loại nặng được ghi nhận được ở nhiều nơi trên thế giới.

Theo đánh giá của tổ chức Bình Minh Xanh (2004), nồng độ Hg tăng gấp 280 lần tiêu chuẩn cho phép và lượng Cr trong nước uống tại Hồng Kông đã ở mức gây ung thư.Thành phố Tianying thuộc tỉnh An Huy – Trung Quốc là nơi có hàm lượng Pb trong nước rất cao, ngay cả lúa mì ở nơi đây cũng chứa Pb vơi nồng độ gấp 24 lần mức cho phép. Kim loại nặng đi vào cơ thể trẻ em khu vực đó gây ra một số bệnh làm cho chỉ số thông minh của trẻ bị giảm đi rất nhiều so với các khu vực khác. Do tình trạng ô nhiễm đất trồng trọt mà có tới 12 triệu tấn trong tổng 484 triệu tấn ngũ cốc của Trung Quốc bị nhiễm kim loại nặng [2]. Hoạt động khai thác vàng đã gây ra ô nhiễm Hg ở khu vực Nam Mỹ.

Để tách vàng ra từ quặng sa khoáng ta dùng đến Hg. Theo báo cáo nghiên cứu của Elmer Diaz (Mỹ), các loài cá sống ở đây bị nhiễm Hg mức độ rất cao, từ 10,2 – 35,9 ppm. Trong mẫu tóc và mẫu máu xét nghiệm của người dân sống xung quanh lưu vực sông Tapajos, Madeira và Negro những nơi hoạt động khai thác vàng diễn ra mạnh mẽ có hàm lượng Hg lần lượt xác định được là 0,74 – 71,4 μg/g trong tóc và 90 – 149 μg/l trong máu. Tại Glasgow (1979 – 1980) hàm lượng Pb vượt quá 100 mg/l là khoảng 42% các mẫu nước sinh hoạt.

Ngoài ra theo thống kê của các nhà nghiên cứu, hàm lượng Pb dao động trong khoảng 120 – 3. Theo báo cáo của Viện Quốc tế quản lý nước (IWMI) thì hầu hết các ruộng lúa ở tỉnh Tak tại Thái Lan bị nhiễm Cd cao gấp 94 lần tiêu chuẩn cho phép, có 5.756 người dân chịu ảnh hưởng và Sinh viên: Trần Ngọc Ánh –MT1601 Page 3 Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng có nguy cơ nhiễm độc Cd dễ mặc chứng bệnh Itai Itai (làm mềm hóa và méo mó xương, gây tổn hại thận). Ở tỉnh Toyama (Nhật Bản) loại bệnh này đã tững xảy ra những năm 1940. Hàng trăm người dân sống ở lưu vực sông JinZu bị tổn thương thận, loãng xương và nhiều người bị tử vong do ô nhiễm Cd do các hoạt động khai thác khoáng [4].

Việt Nam là một nước đang phát triển, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa diễn ra mạnh mẽ góp phần đáng kể trong việc phát triển nền kinh tế của đất nước cùng kéo theo đó các vấn đề về môi trường chưa được quan tâm vì vậy tình trạng ô nhiễm kim loại nặng ngày một tăng. Các khu công nghiệp, khu đô thị và những nơi khai thác khoáng sản là những nơi diễn ra tình trạng ô nhiễm kim loại nặng ở Việt Nam. Theo báo cáo môi trường quốc gia 2011 số doanh nghiệp không đạt tiêu chuẩn về chất lượng dòng thải nước thải xả ra môi trường là 90%, số doanh nghiệp xả thải không đạt chuẩn do không có công trình và thiết bị xử lý là 73%, số công trình xử lý nhưng không đạt yêu cầu là 60%. Do nước thải chưa được phân loại nên việc xử lý khó khăn đồng thời hiệu suất xử lý không cao [5].

Các khu công nghiệp, khu đô thị và các khu vực khai thác khoáng sản là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm kim loại nặng. Các hoạt động gây ô nhiễm kim loại nặng: - Hoạt động khai thác mỏ: việc khai thác và tuyển dụng quặng vàng phải dùng đến thuốc tuyển chứa Hg, CN-. Các nguyên tố kim loại nặng như As, Pb. có thể hòa tan trong nước.

Nguy cơ đáng lo ngại đối với nguồn nước sinh hoạt và nước công nghiệp là ô nhiễm hóa học do hoạt động khai thác và tuyển quặng vàng. Nước tại các khu vực mỏ than thường chứa kim loại nặng, á kim. với hàm lượng cao hơn TCVN từ 1 – 3 lần. - Công nghiệp mạ: các muối vô cơ của kim loại nặng có hàm lượng cao trong nước thải ngành xi mạ kim loại nói chung và mạ điện nói riêng.

Tùy theo kim loại của lớp mạ mà nước thải bị ô nhiễm có thể là đồng, kẽm, Crom. và tùy Sinh viên: Trần Ngọc Ánh –MT1601 Page 4 Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng các muối kim loại sử dụng mà nước thải chứa độc tố khác nhau: xianua, muối sunfat, cromat. pH trong nước thải thường có khoảng thay đổi rất rộng có thể từ rất axit (pH = 2 – 3) đến rất kiềm (pH = 10 – 11). Các ion vô cơ mà đặc biệt là các muối kim loại nặng là đối tượng cần phải xử lý chính trong nước thải mạ điện.

Nước thải của ngành mạ kim loại không xử lý thải ra môi trường, qua thời gian tích tụ, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp đi vào và tồn động trong cơ thể người gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người và gây ra các bệnh nghiêm trọng như viêm loét da, viêm đường hô hấp,ung thư. - Công nghiệp sản xuất các hợp chất vô cơ: các quá trình sản xuất các chất vô cơ như sản xuất xút – Clo, HF, NiSO4,. Công nghệ sản xuất xút – Clo sử dụng cực điện là thủy ngân nên trong quá trình sản xuất xút – Clo thải ra một lượng lớn thủy ngân ra môi trường. Nồng độ thủy ngân trong dòng thải có thể lên đến 35mg/l.

Nước thải từ một nhà máy sản xuất Niken có chứa nồng độ Niken cao lên đến 390mg/l. Nguồn nước bị ô nhiễm ở các khu vực này chỉ là vấn đề sớm muộn khi hàm lượng kim loại nặng trong nước thải cao như vậy khi khả năng tự làm sạch của lưu vực sông quanh đó đạt tới hạn và không có biện pháp xử lý thích hợp và triệt để. - Các ngành công nghiệp sản xuất sơn, mực và thuốc nhuộm: các ngành công nghiệp này sử dụng hóa chất có chứa Cadimium. Kim loại Cadimium có nhiều trong môi trường tự nhiên thường dùng trong các Pigment để in vật liệu dệt đặc biệt là các Pigment màu đỏ, vàng, cam, xanh lá được sử dụng là tác nhân nhuộm vật liệu da, dệt và sản phẩm plastic.

Nguồn nước thải thải trực tiếp ra môi trường làm ô nhiễm sông ngòi, làm chết sinh vật thủy sinh, ảnh hưởng đến y tế và sức khỏe của con người quanh khu vực. Vì vậy, việc cần thiết là xử lý nước thải sơn, mực và thuốc nhuộm. - Công nghiệp luyện kim: lượng hóa chất độc hại của ngành công nghiệp luyện kim ở trong lò xưởng, lò cao, lò khử trực tiếp thải ra môi trường nước làm nguồn nước ô nhiễm nặng nề [6]. Sinh viên: Trần Ngọc Ánh –MT1601 Page 5 Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHDL Hải Phòng Trên thế giới nói riêng và ở Việt Nam nói chung, tình trạng ô nhiễm nguồn nước đang là vấn đề cấp thiết cần phải được quan tâm.

Việc kiểm soát, bảo vệ các nguồn nước, hệ sinh thái là việc làm có ý nghĩa chiến lược đối với nhân loại trong việc bảo vệ môi trường sống của chính chúng ta. Do vậy, cần phải kết hợp các biện pháp kiểm soát ô nhiễm của các chính sách bảo vệ môi trường của Nhà nước với các phương pháp xử lý ô nhiễm nước hiệu quả, kinh tế. Ảnh hưởng của kim loại nặng đến môi trường và con người Các dòng thải chứa hợp chất kim loại nặng thải ra môi trường bị tích tụ và tồn đọng trong lòng đất, song dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau một số hợp chất có thể bị hòa tan. Vì điều này mà các kim loại nặng có thể bị phát tán rộng vào nguồn nước ngầm, nước mặt gây ra ô nhiễm.

Các kim loại nặng xâm nhập vào cơ thể thông qua chuỗi thức ăn. Chúng tác động đến quá trình sinh hóa và gây những hậu quả nghiêm trọng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng sóng siêu âm đến biến tính than hoạt tính bằng axit sulfuric" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách sóng siêu âm có thể cải thiện quá trình biến tính than hoạt tính, từ đó nâng cao hiệu suất và ứng dụng của nó trong các lĩnh vực như xử lý nước và không khí. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ cơ chế tác động của sóng siêu âm mà còn chỉ ra những lợi ích tiềm năng trong việc tối ưu hóa các quy trình công nghiệp, giúp độc giả hiểu rõ hơn về vai trò của công nghệ trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế Dung Quất huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi, nơi nghiên cứu về chất lượng nước, một yếu tố quan trọng trong môi trường sống. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng PAHs trong trà cà phê tại Việt Nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người cũng sẽ cung cấp thông tin hữu ích về ô nhiễm môi trường và sức khỏe. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, giúp bạn nắm bắt các phương pháp cải tiến trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến môi trường và công nghệ.