Luận án: Ảnh hưởng của hoạt động khai thác đến cấu trúc nguồn lợi hải sản vùng biển vịnh Bắc Bộ

Luận án nghiên cứu tác động của hoạt động khai thác đến cấu trúc nguồn lợi hải sản tại vùng biển Vịnh Bắc Bộ, phân tích hiện trạng và đề xuất giải pháp bền vững.

Trường đại học

Viện Nghiên cứu Hải sản

Chuyên ngành

Thủy sinh vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

184
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về khai thác hải sản ở vịnh Bắc Bộ

Vịnh Bắc Bộ là một trong những vùng biển có nguồn lợi hải sản phong phú và đa dạng. Khai thác hải sản tại đây không chỉ đóng góp vào nền kinh tế mà còn là nguồn sống của hàng triệu ngư dân. Tuy nhiên, sự gia tăng cường độ khai thác trong những năm gần đây đã dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn lợi hải sản. Theo số liệu thống kê, sản lượng khai thác hải sản đã tăng từ 1,66 triệu tấn năm 2000 lên 3,58 triệu tấn năm 2019. Điều này cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của ngành nghề này, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức về bảo vệ nguồn lợiquản lý khai thác. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, việc khai thác không bền vững có thể dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng của các loài hải sản, đặc biệt là những loài có giá trị kinh tế cao. Do đó, việc đánh giá tác động của hoạt động khai thác đến cấu trúc nguồn lợi hải sản là rất cần thiết.

1.1. Tình hình khai thác hải sản

Hoạt động khai thác hải sản ở vịnh Bắc Bộ chủ yếu diễn ra qua các phương thức truyền thống và hiện đại. Các nghề như lưới kéo, lưới chụp, và nghề te xiệp đang chiếm ưu thế. Tuy nhiên, sự gia tăng số lượng tàu thuyền và cường độ khai thác đã dẫn đến tình trạng đánh bắt hải sản quá mức. Theo nghiên cứu, nhiều loài hải sản đang bị đe dọa do áp lực khai thác ngày càng tăng. Việc áp dụng các biện pháp quản lý bền vững là cần thiết để bảo vệ tài nguyên biển và đảm bảo sự phát triển lâu dài của ngành nghề này.

II. Tác động của khai thác đến nguồn lợi hải sản

Nghiên cứu cho thấy, ảnh hưởng khai thác đến nguồn lợi hải sản ở vịnh Bắc Bộ là rất lớn. Các loài hải sản có giá trị kinh tế cao đang bị suy giảm về số lượng và chất lượng. Sự biến động trong cấu trúc quần xã hải sản đã được ghi nhận qua các giai đoạn nghiên cứu. Cụ thể, tỷ lệ các loài cá có giá trị kinh tế cao giảm dần, trong khi tỷ lệ các loài cá tạp lại gia tăng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sinh thái biển mà còn tác động đến kinh tế biển của khu vực. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc khai thác không bền vững có thể dẫn đến sự mất cân bằng trong hệ sinh thái, làm giảm khả năng phục hồi của các quần thể hải sản. Do đó, việc đánh giá và quản lý hoạt động khai thác là rất quan trọng.

2.1. Biến động cấu trúc nguồn lợi

Biến động cấu trúc nguồn lợi hải sản ở vịnh Bắc Bộ đã được phân tích qua nhiều chỉ tiêu như sản lượng, mật độ phân bố và năng suất khai thác. Kết quả cho thấy, biến động cấu trúc nguồn lợi hải sản diễn ra theo thời gian và không gian. Các loài hải sản chủ yếu bị ảnh hưởng bởi cường độ khai thác và các yếu tố môi trường. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, sự thay đổi trong cấu trúc nguồn lợi có thể dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển. Việc áp dụng các biện pháp bảo vệ và quản lý nguồn lợi là cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành khai thác hải sản.

III. Giải pháp quản lý và bảo vệ nguồn lợi hải sản

Để đảm bảo sự phát triển bền vững của nguồn lợi hải sản, cần có các giải pháp quản lý hiệu quả. Các biện pháp như quy định cường độ khai thác, bảo vệ các khu vực nhạy cảm và khôi phục các quần thể hải sản đang bị suy giảm là rất cần thiết. Ngoài ra, việc nâng cao nhận thức của ngư dân về bảo vệ nguồn lợi và phát triển nghề cá bền vững cũng đóng vai trò quan trọng. Các chương trình nghiên cứu và giám sát cần được triển khai để theo dõi tình hình khai thác và đánh giá tác động đến sinh thái biển. Việc hợp tác giữa các cơ quan quản lý, ngư dân và các tổ chức phi chính phủ cũng là yếu tố quyết định trong việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi hải sản ở vịnh Bắc Bộ.

3.1. Đề xuất giải pháp quản lý

Các giải pháp quản lý cần được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn. Cần thiết lập các khu vực bảo tồn biển, nơi cấm khai thác để phục hồi nguồn lợi hải sản. Đồng thời, cần có các chính sách khuyến khích ngư dân tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Việc áp dụng công nghệ mới trong khai thác và quản lý cũng sẽ giúp nâng cao hiệu quả và giảm thiểu tác động tiêu cực đến tài nguyên biển. Các chương trình đào tạo và nâng cao năng lực cho ngư dân cũng cần được triển khai để đảm bảo họ có đủ kiến thức và kỹ năng trong việc khai thác bền vững.

01/03/2025
Luận án nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động khai thác đến cấu trúc nguồn lợi hải sản ở vùng biển vịnh bắc bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Tổng quan về nghiên cứu tác động của hoạt động khai thác đến nguồn lợi hải sản Trên thế giới, nghiên cứu về tác động hoạt động khai thác đến nguồn lợi và sinh vật biển đã được nhiều tổ chức, các nước quan tâm. Tác động của mỗi loại nghề khai thác ở các mức độ khác nhau đã được đánh giá trên nhiều diễn đàn, hội thảo, hội nghị, các tổ chức của nhiều nước trên thế giới như: Tại Úc, Mỹ, Canada, Seafdec, FAO.

đa số những nghiên cứu được nhiều tác giả công bố chủ yếu liên quan đến nghề lưới kéo bởi tác động của nghề lưới kéo đến nguồn lợi hải sản là rất lớn. Các loại nghề khác như: nghề lưới vây, nghề chụp, lưới rê… tác động đến nguồn lợi biển ít hơn, do đó những nghiên cứu đánh giá về các nghề này không được công bố nhiều. Theo đánh giá của FAO (2008), trong các loại nghề khai thác hải sản hiện nay nghề lưới kéo có tác động lớn nhất đến hệ sinh thái biển như: Nguồn lợi hải sản, môi trường sống và sinh cảnh sống của các loài sinh vật biển. Diện tích lưới kéo qua có thể phá hủy sinh cảnh, các bãi san hô nơi cư trú của rất nhiều loài hải sản trên đường đi của lưới.

Viện nghiên cứu bảo tồn biển của Mỹ năm 2008 đã tổ chức hội thảo đánh giá tác động của nghề lưới kéo đến đại dương với sự tham gia của nhiều nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới đã chỉ ra: Sản phẩm mẻ lưới kéo mang lại là rất nhỏ so với tổn thất đánh bắt không chủ ý trong sản lượng. Sản phẩm vứt bỏ, chết hoặc sắp chết bị ném lại đáy biển bao gồm cả sinh vật đánh bắt không chủ ý có kích thước nhỏ (cá tạp). Cá non chưa trưởng thành và các rạn san hô dễ bị tổn thương có thể sống thêm nhiều năm nữa nếu chúng không bị khai thác. Thiệt hại gây ra được các nhà khoa học tính toán có thể lớn hơn rất nhiều lần so với giá trị mẻ lưới mang lại [59, 71].

Nghiên cứu của Wating & Ellitott (2008) đánh giá lưới kéo đáy có sự tàn phá nhiều nhất trong bất kỳ tác động khai thác nào của con người đến đáy đại dương trong vòng 10 năm trở lại đây. Nghiên cứu chỉ ra rằng mỗi năm trên thế giới diện tích của 5 các đội tàu lưới kéo quét qua lớn gấp 2 lần diện tích 48 Tiểu Bang nước Mỹ và hầu hết kéo ngoài vùng nước sâu ngoài tầm nhìn. Trước đây, chúng ta không đánh giá được nhưng bây giờ có thể nhìn rõ hơn những tác động của lưới kéo qua những đám khói mây trầm tích thông qua ảnh vệ tinh hoặc trên Google Earth cũng có thể nhìn thấy. Năm 2006, theo báo cáo của Liên Hợp Quốc, đến 95% hệ sinh thái các gò nổi biển sâu trong đại dương bị tác động bởi hoạt động khai thác hải sản.

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trong khoảng độ sâu < 600 m hệ sinh thái bị tác động mạnh nhất và tăng theo thời gian [60]. Ở Canada, khoảng đầu những năm 2000, sự biến mất của loài cá tuyết đã gây ra thiệt hại nặng nề đối với ngành thủy sản. Nguyên nhân của sự biến mất được các nhà khoa học của Canada tập trung nghiên cứu và đã đưa ra một số nhận định rất quan trọng: 90% các loài cá ăn động vật lớn đang bị khai thác quá mức và hệ sinh thái biển đang bị tàn phá nghiêm trọng bởi hoạt động khai thác đánh bắt của con người. Nguyên nhân chính là do tác động xâm hại của các hoạt động khai thác không thân thiện.

Nhóm nghiên cứu khuyến cáo phải bảo vệ nguồn lợi biển, hạn chế và thay thế các nghề khai thác xâm hại cao bằng các loại nghề khai thác ít có hại cho sinh vật biển đang dần cạn kiệt và nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới trong tương lai gần [59]. Tại Australia, năm 1999 nhận thấy tác động mạnh mẽ của các hoạt động khai thác đến nguồn lợi hải sản ở vùng ven bờ đặc biệt là nghề lưới kéo đáy và nghề khai thác sử dụng ánh sáng mạnh (nghề vây và nghề lưới chụp). Chính phủ đã thành lập các khu bảo tồn biển ở Tasmania để ngăn cấm lưới kéo đáy hoạt động ở vùng biển này [96]. Năm 2004, Autralia cũng đã thiết lập khu bảo tồn lớn nhất thế giới ở Great Barrier Reef Marine Park và cấm không thời hạn mọi hoạt động khai thác lưới kéo ở khu vực này.

Nghề câu và nghề lưới rê chỉ được khai thác ở những vùng biển được quy định cụ thể. 6 Năm 1999, Na Uy lần đầu tiên xác nhận lưới kéo gây thiệt hại đáng kể đối với rạn san hô nước lạnh Lophelia, cá rạn và sinh vật biển cư trú trong các bãi rạn bị giảm do mất nơi sinh sống. Sau đó, Chính phủ Na Uy đã thành lập một chương trình nghiên cứu đánh giá hiện trạng san hô nước lạnh Lophelia trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và cấm mọi hoạt động lưới kéo trong khu vực phân bố của san hô [96]. Năm 2001, New Zealand sau khi thực hiện nghiên cứu đánh giá trên toàn quốc về tác động của hoạt động khai thác đến môi trường biển, đã tiến hành cấm hoạt động nghề lưới kéo ở 19 Tiểu vùng thuộc vùng đặc quyền kinh tế của nước này.

Bao gồm vùng cực Nam, Đông và Tây bờ biển đảo Bắc. Bộ thủy sản New Zealand công bố vào ngày 14/02/2006 đã đạt được thỏa thuận với các công ty khai thác thủy sản về hạn chế một số loại nghề khai thác xâm hại như lưới kéo, lưới vây trong diện tích 30% trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này với diện tích khoảng 1. Tuy nhiên, chỉ một phần nhỏ diện tích được Chính phủ đề xuất thành lập các khu bảo tồn khu vực dễ bị tổn thương bởi các hoạt động khai thác. Năm 2005, nhận thấy những tác động không nhỏ của các hoạt động khai thác gia tăng đối với nguồn lợi trong đại dương.

Ủy ban Tổng cục Địa Trung Hải (GFCM) thực hiện lệnh cấm biển Địa Trung Hải đối với hoạt động lưới kéo ở dải độ sâu < 1000 m và nghề lưới vây ở vùng bờ và vùng lộng. Cùng thời gian này Hoa Kỳ cũng thực hiện cấm tạm thời toàn bộ vùng biển rộng lớn Alaska đối với nghề lưới kéo. Năm 2006, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thảo luận về lệnh cấm hoạt động đối với nghề lưới kéo đáy lên đến 14 % bề mặt trái đất gồm các nước thuộc Nam Thái Bình Dương và một số vùng khác. Trong những năm gần đây, các nước trong khu vực Châu Á và Đông Nam Á cũng đã có những nghiên cứu, tổ chức nhiều hội nghị thảo luận đánh giá về tác động và đề xuất những giải pháp hạn chế tác động của nghề lưới kéo đến đại dương: Năm 2014, tại Bangkok Thái Lan, FAO đã tổ chức hội thảo lấy ý kiến của các nhà khoa học để đánh giá những tác động của nghề lưới kéo đến nguồn lợi biển ở khu 7 vực Đông Nam Á.

Đề xuất những giải pháp tích cực để hạn chế tác hại của nghề lưới kéo đối với vùng biển này. Trong hội thảo, các nhà khoa học đã nêu lên được những mặt tích cực và hạn chế của nghề lưới kéo. Những câu hỏi được đặt ra là lưới kéo có tác động lâu dài như thế nào đến nguồn lợi sinh vật và nó ảnh hưởng như thế nào đến hệ sinh thái. Các nhà khoa học đã đề xuất 5 giải pháp thực hiện cụ thể: 1) Xác định khu vực lưới kéo và những ảnh hưởng của nó đến môi trường.

2) Đánh giá tác động của lưới kéo đến sinh vật và môi trường sống của chúng. 3) Đánh giá những tác động rủi ro của nghề lưới kéo. 4) Tác động của nghề lưới kéo đến các hệ sinh thái. 5) Đề xuất giải pháp phù hợp nhất trong công tác quản lý nghề lưới kéo [84].

Madhu (2006) thuộc Trung tâm nghiên cứu công nghệ thủy sản Cochin – Ấn Độ đã nghiên cứu tác động của nghề lưới kéo đến nguồn lợi sinh vật biển ở vùng biển ven bờ Saurashatra, Ấn Độ. Nghiên cứu thực hiện trong hai năm theo 2 mùa gió từ năm 2005 – 2006 trong vùng biển < 45 m. Thu mẫu theo từng tháng với các nhóm công suất khác nhau. Đây là nghiên cứu rất kỹ về tác động của lưới kéo đến sinh cảnh và môi trường sống.

Nghiên cứu tiến hành thu mẫu sinh vật, quan sát vùng diện tích trước và sau khi lưới quét qua để đánh giá mức độ xâm hại đối với đáy biển; tiến hành thu mẫu các thông số hóa học trước và sau khi lưới kéo qua. Kết quả đã chỉ ra khu vực và mật độ các đội tàu hoạt động theo từng tháng khác nhau ở các vùng biển nghiên cứu [76]. Hình 1: Hoạt động của các đội tàu lưới kéo theo nghiên cứu của Madhu (2006) ở một số vùng biển Ấn Độ Ở Ấn Độ, nghề lưới kéo phát triển rất sớm từ những năm 1960 và liên tục phát triển mạnh cả về số lượng và cường lực khai thác với hai loại nghề chủ yếu là kéo đơn 8 cá và kéo tôm. Sản lượng khai thác và cường lực khai thác của nghề lưới kéo tăng mạnh đến những năm 1990.

Sản lượng của đội tàu lưới kéo chiếm đến 60 % tổng sản lượng khai thác cả nước. Tuy nhiên, từ những năm 1990 đến 2012 cường lực khai thác tiếp tục gia tăng nhưng sản lượng khai thác lại bị suy giảm do nguồn lợi tự nhiện bị khai thác quá mức [70]. Ấn Độ đã thực hiện một số giải pháp nhằm giảm sự tác động của nghề lưới kéo đến nguồn lợi như: Không đóng mới và cấp phép cho hoạt động của tàu lưới kéo; cấm các tàu có công suất lớn hoạt động nghề lưới kéo và cấm theo mùa vụ khai thác. Kế hoạch trong tương lai sẽ không cấp phép hoàn toàn đối với nghề lưới kéo và chuyển đổi nghề lưới kéo sang loại nghề khai thác khác ít có tác động đến nguồn lợi.

Hình 2: Biến động sản lượng khai thác của đội tàu lưới kéo của Ấn Đô từ năm 1979 – 2012. Vivekananda Central Marine Fisheries Research Institute) Ở Thái Lan, trong giai đoạn từ năm 2006 – 2009, Shettapong Meksumpum; Januamas Meksumpam và Sangtian Aujimangkul đã nghiên cứu tác động của nghề kéo nhuyễn thể đến môi trường đáy biển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu ảnh hưởng khai thác đến nguồn lợi hải sản vịnh Bắc Bộ là một tài liệu quan trọng phân tích tác động của hoạt động khai thác hải sản đến hệ sinh thái và nguồn lợi biển tại vịnh Bắc Bộ. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố như sự suy giảm đa dạng sinh học, thay đổi cấu trúc quần thể loài, và những hệ lụy kinh tế - xã hội liên quan. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà quản lý, nhà khoa học, và những người quan tâm đến bảo tồn và phát triển bền vững nguồn lợi hải sản.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề môi trường và tài nguyên thiên nhiên, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế Dung Quất, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, hoặc Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông Gianh tỉnh Quảng Bình. Nếu quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến rủi ro sức khỏe từ ô nhiễm môi trường, Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng PAHs trong trà cà phê tại Việt Nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người là một tài liệu đáng đọc.