Đặt vấn đề Hoa Tulip hay còn gọi là hoa Uất Kim Cương, thuộc chi Tulip, họ liliaceae, là loài hoa đã có từ lâu đời trên thế giới, được nhiều nước trên thế giới ưa chuộng và đã được Hà Lan chọn làm Quốc hoa. Hoa Tulip là biểu tượng của tình yêu, thắng lợi và đẹp đẽ, biểu tượng của tình yêu hoàn hảo, bao gồm nhiều màu sắc khác nhau như: màu kem, màu xanh, màu cam viền trắng, màu hồng, màu vàng, màu tím, màu đỏ, màu trắng… nhiều dạng hình đẹp mắt: hình chuông, hình tháp, hình lục lăng… Hoa Tulip cũng được nhiều người Việt Nam rất ưa thích, những năm vừa qua nhiều doanh nghiệp đã nhập hoa từ Hà Lan, Trung Quốc về cung cấp cho thị trường Việt Nam, việc nhập nội làm tăng giá thành hoa, mặt khác do vận chuyển xa dẫn đến chất lượng hoa giảm sút. Đặc điểm đất đai và thành phần dinh dưỡng trong đất ở Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với nơi nhập hoa Tulip. Do vậy việc lựa chọn giá thể và cách bổ sung dinh dưỡng cho hoa Tuylip có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của hoa Tulip.
Hiện nay có rất nhiều loại giá thể được sử dụng để trồng hoa như xơ dừa, trấu hun…việc phối trộn giá thể với tỉ lệ nhất định sẽ phù hợp với từng loại hoa khác nhau. Đồng thời việc bổ sung dinh dưỡng cho hoa thông qua bón phân cũng rất quan trọng. Biện pháp bón phân qua lá đang cho thấy hiệu quả rất tốt, trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại phân bón lá với thành phần dinh dưỡng khác nhau đang được sử dụng trong sản xuất hoa. Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi nhận thấy cần phải lựa chọn giá thể và loại phân bón lá phù hợp nhất với hoa Tulip để nâng cao năng suất, chất lượng hoa và hiệu quả kinh tế.
Do vậy chúng tối tiến hành thực hiện đề tài. “Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể và một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển của hoa Tulip tại Hà Nội ” n 2 1. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích của đề tài Lựa chọn được loại giá thể và phân bón lá phù hợp để hoa Tulip sinh trưởng và phát triển tốt tại Hà Nội.
Yêu cầu - Xác định được loại giá thể phù hợp để trồng Tulip. - Xác định được loại phân bón lá phù hợp với hoa Tulip. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dữ liệu khoa học về đặc điểm sinh trưởng, phát triển của hoa Tulip khi trồng bằng giá thể và sử dụng phân bón lá trong quá trình trồng và chăm sóc.
- Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu hoa nói chung và hoa Tulip nói riêng. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa Tulip. Bước đầu xác định được loại giá thể và loại phân bón lá ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa Tulip. Việc lựa chọn được giá thể phân bón lá phù hợp sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng hoa.
n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở khoa học của việc sử dụng giá thể và sử sử dụng phương pháp dinh dưỡng qua lá Giá thể là loại có khả năng giữ nước tương đương với độ thoáng khí. Khả năng giữ nước và độ thoáng khí của giá thể được quyết định bởi những khoảng trống (khe, kẽ) trong nó.
Trong cát mịn có những khoảng trống rất nhỏ, không chứa được nhiều nước và oxi. Ngược lại sỏi thô tạo ra những khoảng trống khá lớn, nhiều không khí nhưng mất nước nhanh [16]. Giá thể có những đặc điểm giữ nước cũng như thoáng khí, có pH trung tính và có khả năng ổn định pH, thấm nước dễ dàng, bền và có khả năng tái sử dụng hoặc phân hủy ngoài môi trường, nhẹ và rẻ rất thông dụng. Giá thể thì có nhiều loại như xơ dừa, trấu hun, mùn cưa, cát, sỏi vụn (cỡ hạt đậu), đá trân châu,…Có thể dùng đơn lẻ hoặc trộn lại để tận dụng ưu điểm từng loại.
Vì vậy, trồng cây trong giá thể, dinh dưỡng được cung cấp cho cây thông qua phân bón trộn trong giá thể và bón thúc. Giá thể được để trong những khay chậu. Khay chậu có thể là gỗ, đất nung, sành sứ,…tùy vào điều kiện mà người trồng có thể chọn lựa và sử dụng theo sở thích của mình[17]. Giá thể là khái niệm dùng để chỉ tất cả các vật chất bao quanh bộ rễ của cây trồng.
Việc sử dụng các giá thể phù hợp có ý nghĩa đặc biệt đối với cây trồng. Giá thể được sử dụng hiện nay gồm: Than củi, gạch nung, rêu, xơ dừa, rễ bèo tây, vỏ cây, rễ dương xỉ, trấu hun, sỏi, đất, bã nấm., * Mùn xơ dừa: Là giá thể tơi xốp, thoáng khí, dễ thấm nước, giữ ẩm cao, không mang mầm bệnh, chứa nhiều vi sinh vật có lợi cho đất, rẻ tiền, dễ kiếm. Tuy nhiên cũng có nhược điểm thoát nước nhanh, chóng mục, vì vậy dễ bị sâu bệnh. * Trấu hun: Rẻ, dễ làm, thoát nước, nhẹ dễ vận chuyển, cung cấp chất khoáng, làm cứng cây.
Tuy nhiên không có chất hữu cơ, kém dinh dưỡng, hấp thụ nhiệt mạnh nên chỉ dùng cho giâm cây bằng hom và trồng cây giai đoạn đầu. n 4 Từ những năm 60 của thế kỷ 20, ở Liên Xô cũ đã tiến hành nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật trồng cây con trong túi nilông trong nhà lưới có mái che đã đạt được kết quả cao. Sau đó phương pháp này đã được phổ biến trong sản xuất nông nghiệp. Phần cải tiến kỹ thuật vườn ươm, nó đã trở thành một nghề kinh doanh, một số nông dân sản xuất cây con với số lượng lớn để bán cho nông dân khác.
Đất không phải là môi trường tốt cho cây con. Cho thêm cát hoặc cát + than bùn sẽ tạo ra một hỗn hợp rất tốt. Nhiều nơi đã và đang phát triển những hỗn hợp đặc biệt mà có thể được sử dụng. Những hỗn hợp này không sử dụng đất ruộng khi đất ruộng bị ô nhiễm do sâu bệnh và do hoá chất.
Sự khác nhau của môi trường nhân tạo được thể hiện như sau: Theo Lawtence, Neverell (1950)[12], cho biết ở Anh sử dụng hỗn hợp đất + than bùn + cát thô (tính theo thể tích) có tỷ lệ 2:1:1 để gieo hạt, để trồng cây là 7:3:2 Bunt (1965)[10] sử dụng hỗn hợp cho gieo hạt (theo thể tích 1 than bùn rêu nước + 1 cát +2,4kg/m 3 đá vôi nghiền và hỗn hợp trồng cây 3 than bùn rêu nước + 1 cát + 1,8kg/m3 đá vôi nghiền đều cho thấy cây con mập và khoẻ. Masstallerz (1977)[13] cho biết ở Mỹ đưa ra công thức phối trộn (tính theo thể tích) thành phần hỗn hợp bầu bao gồm sét và mùn cát sét và mùn cát có tỷ lệ 1:2:2; 1:1:1 hay 1:2:0 đều cho hiệu quả. Cho thêm 5,5 – 7,7g bột đá vôi và 7,7 – 9,6g Superfosfat cho một đơn vị thể tích. Nghiên cứu thành phần giá thể cho cây con cà chua ở Philippin, Duna (1997) [14] cho biết với một khay có kích thước 35x21x10 con có 72 lỗ (kích thước lỗ là 6x6cm) thì thành phần bầu có tỷ lệ đất, phân chuồng, trấu hun, là 1:1:1 (theo thể tích) và 10g NPK (15:15:15).
Đối với cây ớt nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm của hạt là 20-30oC.Số ngày trung bình sau khi gieo hạt cho tới khi cây mọc ở t 0 đất khác nhau là khác nhau. Sự nảy mầm của hạt có thể thay đổi phụ thuộc vào giống, chất lượng hạt giống và hỗn hợp đất gieo trồng. Theo Kaplina (1976)[11] thì đối với cùng một loại cây nhưng với thành phần giá thể khác nhau cho năng suất khác nhau: Để gieo hạt cải bắp cải xanh nếu thành n 5 phần giá thể gồm 3 phần mùn + 1 phần đất đồi + 0,3 phân bò và trong 1 kg hỗn hợp trên cho thêm 1g N, 4g P2O5, 1g K2O thì năng suất sớm đạt 181,7 tạ/ha. Nếu thành phần gía thể gồm than bùn 3 phần + mùn 1 phần + phân bò 1 phần và lượng chất khoàng như trên thì năng suất sớm đạt 170tạ/ha.
Không chỉ đối với cải bắp cải xanh mà đối với dưa chuột cũng thế. Nếu thành phần giá thể cây con gồm 4 phần mùn + 1 phần đất đồi và trong 1kg hỗn hợp trên cho thêm 1g N, 4g P2O5, 1g K2O thì năng suất sơm đạt 238 tạ/ha.Nếu thành phần giá thể gồm 4 phần mùn + 1 phần đất trồng thì năng suất sớm đạt 189 tạ/ha. Berke (1997)[16] cho biết ở trung tâm nghiên cứu phát triển rau châu Á sử dụng khay có 70 lỗ để gieo cây con. Môi trường trong các khay là rêu than bùn, đất đã được chuẩn bị, hoặc hỗn hợp trong chậu được chuẩn bị từ: Đất + phân chuồng + trấu hun + chất khoáng và cát.
Sử dụnghỗn hợp 70% rêu than bùn và 30% chất khoáng thô. Nên tự chuẩn bị hỗn hợp trong chậu sử dụng các thành phần không thô nếu có thể nên khử trùng bằng nồi hấp hoặc lò nóng ở nhiệt độ 120 oC trong 2 giờ. Ngoài ra cho thêm một lượng phụ P2O5 và K2O vào giúp cho sự phát triển của cây con. Trung Tâm Nghiên cứu phát triển rau châu Á (AVRDC)[14] (1992) khuyến cáo việc sử dụng rêu than bùn hoặc chất khoáng được coi như môi trường tốt cho cây con.
Theo Northen (1974)[15] cho rằng, việc cấy cây Phong lan con lấy ra từ ống nghiệm nên dùng 3 phần vỏ cây thông xay nhuyễn + 1 phần cát hoặc 8 phần Osmida xay nhuyễn + 1 phần than vụn. Giá thể này cho tỷ lệ sống của cây lan con cao và cây sinh trưởng phát triển tốt. Có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần của giá thể ảnh hưởng đến chất lượng cây trồng. Tuỳ từng loại cây khác nhau mà giá thể có thành phần khác nhau.Tác giả Phạm Thị Kim Thu và Đặng Thị Vân (1997)[9] cho biết nền đất + phân hữu cơ + cát đen tỷ lệ là 1:1:1 có phủ một lớp cát đen 2 cm lên trên là tốt nhất khi đưa chuối nuôi cấy mô ra vườn ươm.
Đối với cây con được gieo từ hạt khả năng thích ứng với môi trường là cao hơn với cấy Invitro nhưng thời kỳ cây con ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển năng suất của cây sau n 6 này. Vì vậy, việc xác định giá thể và hàm lượng chất khoáng cho cây con trong bầu cũng rất quan trọng.