Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu ảnh hưởng của thủy triều và nước dâng tới sóng trong bão bằng mô hình số trị tích hợp tại ven biển quảng ninh hải phòng

Nghiên cứu ảnh hưởng của thủy triều và nước dâng tới sóng trong bão tại ven biển Quảng Ninh, Hải Phòng bằng mô hình số trị tích hợp.

Chuyên ngành

Hải Dương Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học

2018

63
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG

1.1. Tổng quan về sóng

1.2. Tình hình nghiên cứu sóng vùng biển khơi

1.3. Tình hình nghiên cứu trƣờng sóng vùng ven bờ

1.4. Tình hình nghiên cứu sóng ở Việt Nam

1.5. Giới thiệu về khu vực

1.5.1. Quảng Ninh

1.5.1.1. Vị trí địa lý, địa hình, địa mạo
1.5.1.2. Tài nguyên biển
1.5.1.3. Khí hậu

2. CHƢƠNG 2: SỐ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Số liệu phục vụ nghiên cứu

2.2. Mô hình tích hợp tính toán thủy triều, sóng biển và nƣớc dâng bão (SuWAT)

2.3. Kết nối mô hình thủy triều nƣớc dâng bão và mô hình sóng

2.4. Mô hình bão giải tích

3. CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Miền tính, lƣới tính cho mô hình

3.2. Kiểm định mô hình SuWAT cho khu vực nghiên cứu

3.3. Đánh giá ảnh hƣởng của thủy triều và nƣớc dâng bão tới sóng trong bão

3.4. Hiện trạng sóng trong bão (giai đoạn 1952-2017) tại ven biển Quảng Ninh-Hải Phòng

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC BẢNG

Tóm tắt

I. Tổng quan về ảnh hưởng của thủy triều và nước dâng tới sóng bão

Nghiên cứu về thủy triềunước dâng là rất quan trọng trong việc hiểu rõ tác động của chúng đến sóng bão tại khu vực ven biển Quảng NinhHải Phòng. Khu vực này có đặc điểm địa lý và khí hậu đặc thù, ảnh hưởng lớn đến các hiện tượng hải văn. Việc phân tích các yếu tố này giúp đưa ra các giải pháp quản lý và ứng phó hiệu quả hơn với thiên tai.

1.1. Đặc điểm thủy triều và nước dâng tại Quảng Ninh Hải Phòng

Khu vực Quảng NinhHải Phòng có biên độ thủy triều lớn, với sự biến đổi mực nước biển rõ rệt. Thủy triều có thể ảnh hưởng đến độ sâu của nước, từ đó tác động đến sóng bão. Nghiên cứu cho thấy rằng sự thay đổi này có thể làm gia tăng độ cao sóng trong bão, gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho các công trình ven biển.

1.2. Tình hình sóng bão tại khu vực ven biển

Sóng bão tại Quảng NinhHải Phòng thường có độ cao lớn, đặc biệt trong các cơn bão mạnh. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sóng bão có thể đạt đến độ cao nguy hiểm, gây ra xói lở bờ biển và thiệt hại cho các công trình hạ tầng. Việc theo dõi và dự báo sóng bão là cần thiết để giảm thiểu thiệt hại.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu sóng bão

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về sóng bão, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc dự đoán chính xác ảnh hưởng của thủy triềunước dâng. Các yếu tố như biến đổi khí hậu và sự phát triển đô thị cũng làm gia tăng độ phức tạp của vấn đề này. Cần có các phương pháp nghiên cứu mới để cải thiện độ chính xác trong dự báo.

2.1. Những khó khăn trong việc thu thập dữ liệu

Việc thu thập dữ liệu về thủy triềunước dâng gặp nhiều khó khăn do điều kiện thời tiết khắc nghiệt và sự thiếu hụt các trạm quan trắc. Điều này ảnh hưởng đến khả năng phân tích và dự báo sóng bão một cách chính xác.

2.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến sóng bão

Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng tần suất và cường độ của các cơn bão. Điều này có thể dẫn đến sự gia tăng nước dângsóng bão, gây ra những thách thức lớn cho công tác quản lý và ứng phó với thiên tai tại Quảng NinhHải Phòng.

III. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của thủy triều và nước dâng

Để nghiên cứu ảnh hưởng của thủy triềunước dâng đến sóng bão, mô hình số trị tích hợp được áp dụng. Mô hình này cho phép tính toán và dự báo sóng trong bão một cách chính xác hơn. Việc sử dụng mô hình SuWAT giúp kết nối các yếu tố thủy triều, sóng và nước dâng, từ đó đưa ra các kết quả đáng tin cậy.

3.1. Mô hình SuWAT và ứng dụng trong nghiên cứu

Mô hình SuWAT được phát triển để tính toán các yếu tố hải văn, bao gồm thủy triều, nước dângsóng bão. Mô hình này đã được áp dụng thành công tại khu vực Quảng NinhHải Phòng, cho phép đánh giá chính xác hơn về ảnh hưởng của các yếu tố này đến sóng trong bão.

3.2. Kết nối giữa các mô hình thủy triều và sóng

Việc kết nối các mô hình thủy triều và sóng là rất quan trọng để có cái nhìn tổng thể về tình hình hải văn. Sự kết hợp này giúp cải thiện độ chính xác trong dự báo và quản lý rủi ro thiên tai tại khu vực ven biển.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng thủy triềunước dâng có ảnh hưởng lớn đến sóng bão tại Quảng NinhHải Phòng. Các mô hình đã chỉ ra rằng sự thay đổi mực nước có thể làm gia tăng độ cao sóng, từ đó gây ra những thiệt hại nghiêm trọng. Những kết quả này có thể được ứng dụng trong công tác quản lý và ứng phó với thiên tai.

4.1. Đánh giá ảnh hưởng của sóng bão trong giai đoạn 1952 2017

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong giai đoạn 1952-2017, sóng bão tại khu vực Quảng NinhHải Phòng có xu hướng gia tăng về độ cao và tần suất. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp ứng phó kịp thời.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào quản lý rủi ro

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các kế hoạch ứng phó với thiên tai, từ đó giảm thiểu thiệt hại cho các công trình ven biển và bảo vệ an toàn cho người dân.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu về ảnh hưởng của thủy triềunước dâng đến sóng bão tại Quảng NinhHải Phòng đã chỉ ra nhiều vấn đề cần được giải quyết. Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các mô hình dự báo để cải thiện khả năng ứng phó với thiên tai trong tương lai. Việc này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn đảm bảo an toàn cho cộng đồng.

5.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc cải thiện độ chính xác của các mô hình dự báo, đồng thời nghiên cứu sâu hơn về tác động của biến đổi khí hậu đến sóng bão.

5.2. Tầm quan trọng của việc quản lý rủi ro thiên tai

Quản lý rủi ro thiên tai là rất quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Cần có các chính sách và biện pháp cụ thể để bảo vệ cộng đồng và tài sản trước những tác động của sóng bão.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu ảnh hưởng của thủy triều và nước dâng tới sóng trong bão bằng mô hình số trị tích hợp tại ven biển quảng ninh hải phòng

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Các lĩnh vực biển trong vòng vài thập kỷ trở lại đây đã và đang trở thành một trong những vấn đề đƣợc quan tâm và phát triển. Về kinh tế, biển đang trở thành mũi nhọn trong chiến lƣợc phát triển của các quốc gia có ƣu thế về biển. Đối với Việt Nam là một quốc gia ven biển, có đƣờng bờ biển trải dài từ Bắc vào Nam, có nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi trong việc phát triển đa dạng các ngành kinh tế biển thì việc tận dụng lợi thế đó nhằm đƣa Việt Nam từng bƣớc “ trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển” ngày càng trở nên quan trọng. Để có những thông tin và hiểu biết nhất định giúp cho việc quản lý, khai thác và bảo vệ biển cần có những số liệu quan trắc thực tế, các nghiên cứu chuyên sâu bằng mô hình số trị.

Trong các yếu tố hải văn, sóng biển là yếu tố đƣợc quan tâm bậc nhất đối các hoạt động và lƣu thông trên biển. Chính vì vậy mà các bản tin cảnh báo, dự báo sóng luôn đƣợc quan tâm không chỉ trong những thời điểm có thời tiết nguy hiểm trên biển (bão, áp thấp nhiệt đới, gió mùa mạnh.) mà hàng ngày để lập kế hoạch cho các hoạt động trên biển. Từ trƣớc tới nay, các mô hình dự báo sóng thƣờng không xem xét tới ảnh hƣởng của thủy triều và nƣớc dâng do bão, tức là tính sóng trên nền mực nƣớc biển trung bình. Khu vực ven biển Quảng Ninh-Hải Phòng là nơi có biên độ thủy triều lớn, do vậy độ sâu ven biển sẽ có nhiều khác biệt tại những pha thủy triều cao và thấp, nhất là khi bão đổ bộ gây nƣớc dâng lớn vào kỳ triều cƣờng.

Sự thay đổi trƣờng độ sâu và dòng chảy khi bão đổ bộ có thể làm khác biệt trƣờng sóng trong bão. Chính vì vậy, luận văn này tập trung nghiên cứu ảnh hƣởng của thủy triều kết hợp với nƣớc dâng do bão tới sóng trong bão. Để nghiên cứu, đánh giá ảnh hƣởng của thủy triều và nƣớc dâng tới sóng biển, mô hình số trị hải dƣơng tích hợp sóng, thủy triều và nƣớc dâng do bão đƣợc áp dụng để tính toán trƣờng sóng trong bão theo 2 phƣơng án là có và không xét tới ảnh hƣởng của thủy triều và nƣớc dâng. Khu vực áp dụng nghiên cứu là ven biển Quảng Ninh-Hải Phòng.

Nội dung của luận văn bao gồm 03 chƣơng chính, phần kết luận và phần các bảng phụ lục: Chƣơng I: Giới thiệu chung. Chƣơng II: Số liệu và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng III: Kết quả nghiên cứu. Kết luận và kiến nghị 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I.

GIỚI THIỆU CHUNG 1. Tổng quan về sóng Trƣờng sóng trên biển là một trong các yếu tố động lực biển quan trọng tác động lên tàu thuyền, các công trình và mọi hoạt động trên biển. Trƣờng sóng vùng ven bờ cũng là nguyên nhân chính gây xói lở bờ biển, biến đổi đáy biển vùng ven bờ tác động đến các công trình bảo vệ bờ, công trình cảng và luồng ra vào cảng. Sóng và dòng chảy sóng còn là nhân tố tác động đến các quá trình lan truyền ô nhiễm vùng ven bờ.

Nƣớc ta nằm trong vùng tác động của bão và các loại gió mùa. Sóng trong gió mùa và bão là yếu tố hải văn cực kỳ nguy hiểm trên biển [4]. Tình hình nghiên cứu sóng vùng biển khơi: Thời kỳ trƣớc những năm 70 các phƣơng pháp tính sóng đều dựa vào các toán đồ xây dựng trên cơ sở các tƣơng quan thực nghiệm giữa các tham số sóng, yếu tố tạo sóng và các tính toán, dự báo sóng nghiệp vụ hàng ngày đã đạt đƣợc trình độ mô phỏng đƣợc từng thành phần phổ sóng và tính toán cho vùng biển với bƣớc lƣới đủ chi tiết để phục vụ cho các mục tiêu khác nhau. Vào những năm 1970-1980 các mô hình tính sóng theo phƣơng trình CBNL sóng dạng phổ chủ yếu thuộc thế hệ I là loại phƣơng trình dựa trên giả định các thành phần phổ sóng hoàn toàn độc lập với nhau trong khi lan truyền.

Các mô hình tính sóng theo giả định này gọi là các mô hình phổ sóng truyền độc lập DP (Decouple Propagation). Ví dụ mô hình MRI của Cục Khí tƣợng Nhật JMA. Từ những năm 1980 xuất hiện mô hình tính sóng thế hệ II, có tính toán đến sự tƣơng tác giữa các sóng trong khi lan truyền. Hiện nay trên thế giới sử dụng loại mô hình tính sóng thế hệ III cho phép tính đƣợc năng lƣợng phổ bằng cách tích phân trực tiếp phƣơng trình CBNL sóng không phụ thuộc vào điều kiện các dạng cho trƣớc của phổ cả ở vùng nƣớc sâu và ven bờ (mô hình WAM, SWAN).

Hiện nay tại Mỹ có các số liệu sóng ở dạng các tham số sóng gồm độ cao, chu kỳ, hƣớng sóng, cho hệ sóng gió và sóng lừng ứng với từng Obs và theo thời gian yêu cầu (10-20 năm) đƣợc cung cấp cho tất cả các điểm vùng nƣớc sâu dọc bờ biển theo hai nguồn số liệu: + Số liệu khôi phục của hệ thống tƣ liệu ven bờ (CEDRS), + Số liệu khôi phục của hệ thống phân tích trạng thái mặt biển (SEAS) [4]. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình nghiên cứu trường sóng vùng ven bờ: Trƣớc những năm 70 các tính toán sóng ven bờ thƣờng đƣợc thực hiện theo phƣơng pháp thủ công dựa vào các toán đồ khúc xạ, hệ số biến dạng vv. Griswold là một trong những ngƣời đầu tiên sử dụng máy tính để lập các bản đồ tia sóng khúc xạ thông qua việc giải phƣơng trình vi phân tia sóng.

Hiện nay phần lớn các tính toán lan truyền sóng từ vùng nƣớc sâu vào khu vực ven bờ đều dựa trên việc giải số trị phƣơng trình lan truyền sóng trên vùng biển ven bờ có độ dốc thoải của Berkhof 1972 có tính đến hiệu ứng nhiễu xạ giữa bản thân các sóng tại vùng ven bờ. Mô hình lan truyền sóng vùng ven bờ RCPWAVE dựa theo phƣơng trình trên của Trung tâm Công nghệ Ven bờ thuộc Hải quân Mỹ (CERC) là một mô hình đƣợc sử dụng rộng rãi để mô phỏng trƣờng sóng ven bờ trong các tính toán phục vụ xây dựng các công trình ven biển và bảo vệ bờ biển. Mô hình SWAN thuộc thế hệ III của Viện Thủy lực Hà Lan đƣợc sử dụng để tính toán sóng vùng khơi và lan truyền các thành phần phổ sóng vào vùng ven bờ [4].Tình hình nghiên cứu sóng ở Việt Nam a) Thời kỳ trước năm 1975 Chủ yếu tiến hành quan trắc sóng bằng máy ngắm sóng Ivannov, còn việc điều tra đo đạc các yếu tố sóng vùng nƣớc sâu hầu nhƣ bị bỏ trống. Một số các công trình nghiên cứu do các tác giả nƣớc ngoài và trong nƣớc về chế độ sóng đều ở dạng các tính toán thủ công theo phƣơng pháp thống kê chế độ.

b) Thời kỳ từ năm 1975 đến nay Là thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất của khoa học công nghệ biển ở nƣớc ta. Nghiên cứu sóng đƣợc phát triển trong cả hai phƣơng diện: đo đạc, điều tra khảo sát cơ bản trƣờng sóng vùng nƣớc sâu ven bờ và các phƣơng pháp tính toán, dự báo. Gió lớn có liên quan tới bão và có thể sinh ra sóng lớn. Khi nƣớc dâng lên từ trong mắt bão kết hợp với gió, dòng chảy và thủy triều, nƣớc dâng bão đƣợc tạo ra.

Sự dâng mực nƣớc ở bờ biển gia tăng sự nguy hiểm - thƣờng là hàng chục met - là nguyên nhân dẫn đến phá hủy vùng ven bờ biển. Năm 1981 đã bắt đầu các thử nghiệm tính toán số trị trƣờng sóng vùng khơi biển Đông theo phƣơng pháp Abuziarov. Năm 1989 đã tiến hành xây dựng phƣơng pháp dự báo số trị trƣờng sóng vùng biển Đông bằng phƣơng pháp giải phƣơng trình CBNL sóng dạng phổ trong đó đã sử dụng phƣơng trình CBNL sóng với các thành phần phổ sóng tách biệt để tính toán và dự báo sóng 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tính sóng trong bão và gió mùa đã đƣợc đề cập đến trong nhiều chƣơng trình nghiên cứu biển nhƣ chƣơng trình 48B, chƣơng trình biển KT03, chƣơng trình khoa học công nghệ biển KHCN06.

Tính sóng vùng ven bờ cũng đƣợc chú ý phát triển cùng với các yêu cầu về thiết kế các công trình ven biển, bảo vệ bờ biển chống sạt lở, xói lở bờ, bảo vệ các công trình tuyến kênh hàng hải ra vào cảng chống sa bồi và quản lý khai thác vùng bờ biển nƣớc ta. Về các phƣơng tiện máy và thiết bị đo đạc trƣờng sóng cũng đƣợc phát triển rất mạnh trong thời gian từ năm 1975 tới nay. Trƣớc năm 1980 đã sử dựng các loại máy tự ghi sóng ven bờ - sóng ký dây và máy tự ghi sóng vùng nƣớc sâu - GM16 của Liên Xô thời đó. Từ 1980 tới nay, nhờ các dự án do nƣớc ngoài tài trợ, các nguồn kinh phí của các chƣơng trình điều tra nghiên cứu biển và kinh phí đầu tƣ chiều sâu tại một số các cơ quan nghiên cứu biển nƣớc ta đã đƣợc trang bị các loại máy tự ghi sóng của Anh, phao đo sóng của Hà Lan, Na Uy, máy tự ghi sóng của Mỹ, Nhật vv…Tuy nhiên đại đa số các số liệu đo đạc đƣợc là các số liệu khảo sát trong thời gian ngắn không hoàn toàn đặc trƣng cho đặc điểm khốc liệt về trƣờng sóng ở vùng biển nƣớc ta, đó là trƣờng sóng trong bão và gió mùa.

[4] Với dự báo sóng biển: Ở Việt Nam, nghiên cứu dự báo sóng biển bằng mô hình số trị cũng đã đƣợc đặt ra từ lâu, nhƣng tiến bộ chậm so với thế giới. Hiện tại đã có những tiến bộ vƣợt bậc hơn do tiếp thu công nghệ và nghiên cứu khai thác mô hình dự báo sóng dạng mã nguồn mở. Các mô hình số trị dự báo sóng thế hệ thứ 3 đã đƣợc một số tác giả nghiên cứu áp dụng, điển hình nhƣ: - Tại Trung tâm KTTV Biển (nay là Trung tâm Hải văn, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam): Đề tài cấp bộ “Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo tác nghiệp khí tượng thuỷ văn biển (gồm dòng chảy, sóng và nước dâng do bão) vùng Biển Đông và ven biển Việt Nam” đã áp dụng WAM cho dự báo sóng ngoài khơi, SWAN cho dự báo sóng ven bờ. - Tại Viện Cơ học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt nam: Đề tài cấp nhà nƣớc KT-03-04 đã xây dựng quy trình tính toán sóng ven bờ, sử dụng các mô hình RCPWAVE, STWAVE.

Tuy nhiên trong khuôn khổ đề tài này không dự báo sóng cho khu vực Biển Đông. [1] - Tại một số cơ quan khác (Đại học Xây dựng Hà Nội, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài nghiên cứu mang tiêu đề "Nghiên cứu ảnh hưởng của thủy triều và nước dâng tới sóng bão tại Quảng Ninh - Hải Phòng" tập trung vào việc phân tích tác động của thủy triều và hiện tượng nước dâng lên đối với sóng bão tại khu vực Quảng Ninh và Hải Phòng. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến sóng bão mà còn giúp các nhà quản lý và cộng đồng địa phương có những biện pháp ứng phó hiệu quả hơn trong việc giảm thiểu thiệt hại do thiên tai.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp dự báo sóng, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận án tiến sĩ hus nghiên cứu ứng dụng phương pháp đồng hoá số liệu phục vụ mô hình dự báo sóng". Tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn những thông tin bổ ích về cách thức ứng dụng các phương pháp khoa học trong việc dự báo sóng, từ đó giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sóng bão và cách thức quản lý rủi ro thiên tai.