ĐẶT VẤN ĐỀ Cây cao su (Hevea brasiliensis) đƣợc trồng đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1897, sau đó đƣợc phát triển nhiều nơi ở Nam Bộ và Tây Nguyên. Do hiệu quả kinh tế cao nên diện tích rừng trồng cao su ngày càng đƣợc tăng lên một cách nhanh chóng. Với nỗ lực của toàn ngành cao su, Việt Nam tiếp tục giữ vững vị trí thứ 2 về năng suất vƣờn cây, thứ 4 về sản lƣợng và xuất khẩu trên thế giới. Năm 2015, diện tích cao su của cả nƣớc đạt trên 981.000 ha, sản lƣợng 1 triệu tấn.
Năm 2016 là năm đánh dấu cột mốc quan trọng của ngành cao su Việt Nam. Lần đầu tiên nhãn hiệu chứng nhận “Cao su Việt Nam” đƣợc công bố chính thức sau hai năm thực hiện các thủ tục cấp phép và xây dựng hồ sơ pháp lí liên quan. (Nguồn: Tạp chí thông tin và công nghệ Tp.HCM) Là một tỉnh có diện tích đồi núi chiếm 3/4 diện tích của cả tỉnh, có tiềm năng lớn về kinh tế lâm nghiệp, mà cao su lại là một loại cây trồng chủ đạo trong chiến lƣợc phát triển kinh tế của khu vực miền núi, chính vì thế cùng với sự tăng lên về diện tích cao su tại khắp các tỉnh trong nƣớc, tỉnh Thanh Hóa cũng đang cố gắng phát triển diện tích rừng cao su tại những nơi đất trống, đồi núi trọc, vừa tăng diện tích phủ xanh đất trống, vừa góp phần thúc đẩy cao su tiểu điền phát triển tạo công ăn việc làm cho ngƣời dân tại khu vực. Là một trong các huyện miền núi trồng cao su chủ yếu của tỉnh Thanh Hóa, huyện Cẩm Thủy đã và đang áp dụng mở rộng sản xuất cây cao su theo 3 hình thức: cao su tiểu điền, cao su đại điền và cao su liên kết với hộ gia đình.
Mặc dù thời tiết, khí hậu không thật sự phù hợp cho cây cao su phát triển, song năng xuất mủ (nhựa) bình quân trên địa bàn huyện đạt 77.45 tấn trên tổng diện tích 146. (Nguồn: Báo cáo đánh giá sản lượng cao su khu vực Cẩm Thủy, năm 2016) Trƣớc xu hƣớng đó, đã xuất hiện nhiều ý kiến cho rằng rừng Cao su không có khả năng bảo vệ đất và giữ nƣớc kém, ảnh hƣởng tiêu cực đến môi trƣờng đất, nƣớc và không khí, làm gia tăng bệnh tật và làm giảm mức đa 1 dạng sinh học… Tuy nhiên, đến nay những nghiên cứu này còn rất thiếu, chƣa đủ cơ sở khoa học để khẳng định mức độ ảnh hƣởng của rừng cao su đến môi trƣờng để có những giải pháp kĩ thuật nhằm hạn chế những tác động tiêu cực do Cao su gây nên. Khóa luận này tập trung “Nghiên cứu ảnh hưởng của rừng cao su đến môi trường đất và sinh vật đất tại Phúc Do - Cẩm Thủy - Thanh Hóa” nhằm bổ sung những hiểu biết về ảnh hƣởng của rừng Cao su đến một số yếu tố môi trƣờng rừng, góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc phát triển bền vững cây cao su trên đất dốc. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về cây cao su 1. Nguồn gốc của loài cây cao su Cây cao su có tên khoa học là Hevea brasiliensis, là một loài cây thân gỗ thuộc họ Euphorbiaceae (họ Thầu dầu) và cũng là thành viên có tầm quan trọng kinh tế lớn nhất trong chi Hevea. Vết vỏ đẽo chảy nhiều nhựa trắng hay vàng, nhựa đàn hồi cao. Là cây có nguồn gốc non trẻ, có thể cao tới 30m.
Cây cao su có nguồn gốc ở Braxin thuộc châu Mỹ La tinh, đƣợc du nhập và trồng tại Việt Nam cuối thế kỉ IXX. Cây cao su đƣợc tìm thấy ở một số nơi nhƣ: Braxin, Ấn Độ, Singapore, Đông Nam Á, Châu Phi. trên các vùng đất nhiệt đới. Nó phân bố chủ yếu từ 240 Nam đến 230 Bắc.
Là cây công nghiệp dài ngày, thời gian chăm sóc cây cao su từ lúc bắt đầu trồng đến lúc bắt đầu thu hoạch nhựa kéo dài từ 5 - 7 năm và thu hoạch liên tục trong nhiều năm. Do thời gian thu hoạch nhựa kéo dài trong nhiều năm nên việc thu hoạch nhựa cây đúng kĩ thuật sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo năng suất cao và bền vững trong nhiều năm. Lịch sử phát triển của cây cao su Năm 1736, Charles Goodyear đã phát minh phƣơng pháp “lƣu hóa” mủ cao su làm tăng tính năng tác dụng của cao su rất lớn. Năm 1876, Hemy Wickham - ngƣời Anh đã thành công trong việc đƣa cao su phát triển ở những vùng trên thế giới, đặc biệt là vùng Đông Nam Á.
Ở Đông Nam Á, lần đầu tiên Cao su đƣợc trồng ở Java (Indonesia) vào năm 1876. Về sau các đồn điền cao su trở nên thịnh vƣợng nhờ thành tựu ứng dụng của sản phẩm cao su tự nhiên có chất lƣợng cao, việc trồng cây Cao su đƣợc phát triển mạnh không những ở các đảo khác của Indonesia mà còn ở nhiều nƣớc khác của Đông Nam Á rồi đến các nƣớc khác của Châu Á, nhờ 3 chƣơng trình sử dụng gỗ cao su mang lại hiệu quả tốt, nên diện tích trồng cao su đƣợc chú ý phát triển mạnh. Cây cao su đƣợc ngƣời Pháp (Pierre) đƣa vào Việt Nam lần đầu tiên tại vƣờn thực vật Sài Gòn năm 1878 nhƣng không sống đƣợc. [16] Đến năm 1892, 2000 hạt cao su từ Indonesia đƣợc nhập vào Việt Nam.
Trong 1600 cây sống, phần lớn đƣợc giao cho trạm thực vật Ong Yệm (Bến Cát, Bình Dƣơng), phần còn lại giao cho bác sĩ Yersin trồng thử ở suối Dầu (cách Nha Trang 20km). [16] Năm 1897 đã đánh dấu sự hiện diện của cây cao su ở Việt Nam. Công ty cao su đầu tiên đƣợc thành lập là Suzannah (Long Khánh, Đồng Nai) năm 1907. Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và công ty cao su ra đời chủ yếu là của ngƣời Pháp và tập trung ở Đông Nam Bộ.
SIPH, SPTR, CEXO, Michelin…một số đồn điền cao su tƣ nhân Việt Nam đƣợc thành lập. Vào những thập niên 1910 - 1940, do lợi nhuận cao su mang lại rất lớn nên các ông chủ của các đồn điền cao su đã thúc đẩy trồng cây cao su trên các vùng đất phì nhiêu (đất đỏ và đất nâu) nhiệt đới. Tuy nhiên, do giá thành cao su thiên nhiên cao, nên ngƣời ta cũng đã tìm cách chế tạo ra cao su nhân tạo, cao su tổng hợp thay thế cao su thiên nhiên. Đến năm 1976, Việt Nam có khoảng 76.000 ha, tập trung ở Đông Nam Bộ khoảng 69.500 ha, Tây Nguyên khoảng 3.482 ha, các tỉnh duyên hải miền Trung và khu 4 cũ khoảng 3.
[16] Năm 1999, diện tích cao su cả nƣớc đạt 394.000 ha, cao su tiểu điền chiếm khoảng 27. Năm 2004, diện tích cao su cả nƣớc là 454.000 ha, trong đó cao su tiểu điền chiếm 37%. Năm 2005, diện tích cao su cả nƣớc là 464. [16] Năm 2007, diện tích cao su ở Đông Nam Bộ là 339.000 ha, Tây Nguyên là 113.000 ha, trung tâm phía Bắc là 41.500 ha và Duyên hải miền Trung là 6.
[16] 4 Là nƣớc đứng thứ tƣ trên thế giới về sản lƣợng cao su, chính vì thế việc mở rộng diện tích cao su tại nƣớc ta ngày càng cao, điều này cũng ảnh hƣởng không nhỏ đến môi trƣờng mà chủ yếu là môi trƣờng đất dƣới rừng cao su. Tổng quan nghiên cứu về đất và sinh vật đất 1. Tổng quan nghiên cứu về đất Đất đƣợc hình thành và tiến hóa chậm hàng thế kỉ do sự phong hóa đá và sự phân hủy xác thực vật dƣới ảnh hƣởng của các yếu tố môi trƣờng. Một số đất đƣợc hình thành do sự bồi lắng phù sa sông, biển và gió.
Đất có bản chất cơ bản khác với đá là có độ phì nhiêu và tạo sản phẩm cây trồng. Đất rừng và quần xã thực vật là hai thành phần trong hệ sinh thái luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự tác động qua lại giữa hai thành phần này tạo nên những đặc trƣng về sự tồn tại và hoạt động của hệ sinh thái rừng. Hiện nay với tốc độ phát triển của nền kinh tế, con ngƣời gia tăng những hoạt động trên đất rừng.
Nhằm nâng cao hiệu quả về sử dụng bền vững tài nguyên rừng thì những công trình nghiên cứu về đất và những thực vật tồn tại trên nó ngày càng đƣợc chú trọng. Đã có rất nhiều tác giả quan tâm đến vấn đề này và dƣới đây là một số nghiên cứu về đất của những tác giả trên Thế giới và tại Việt Nam: - Docutraep là ngƣời đầu tiên đƣa ra 5 nhân tố dẫn đến quá trình hình thành đất: đá mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình, thời gian. [6] Ngoài 5 yếu tố nêu trên, ta thấy các hoạt động sản xuất của con ngƣời cũng có tác động rất mạnh đối với quá trình hình thành đất, vì thế “con ngƣời” là nhân tố thứ 6 quyết định đến quá trình hình thành đất. - Theo Đỗ Đình Sâm (1984) nghiên cứu độ phì đất rừng và vấn đề thâm canh rừng trồng cho rằng đất có độ phì hóa học không cao.
Nơi đất có rừng thì độ phì đƣợc duy trì chủ yếu qua con đƣờng sinh học. Các trạng thái rừng khác nhau, các biện pháp kỹ thuật tác động khác nhau cho thấy sự biến đổi về hóa tính đất không rõ nét (trừ yếu tố mùn, đạm). Tuy nhiên, các tính chất về 5 lý tính của đất đặc biệt là cấu trúc và nhiệt là nhân tố dễ biến đổi và bị ảnh hƣởng nhiều, có lúc quyết định đến sinh trƣởng và phát triển của cây rừng. [2] - Theo Trƣơng Đình Trọng khi nghiên cứu: thực trạng thoái hóa đất bazan ở tỉnh Quảng Trị và các giải pháp bảo vệ môi trƣờng đất, cho thấy: một số vùng sau khi lột bỏ lớp phủ rừng đã đƣợc trồng cây công nghiệp dài hạn nhƣ cà phê, cao su, chè có khả năng duy trì độ phì bazan.
Song so với đất phát sinh dƣới tán rừng của khu vực, tác động canh tác đất vẫn thấy biểu hiện trạng thái thoái hóa nhẹ. Biểu hiện thoái hóa tạo ra một tầng chặt dƣới tầng canh tác. Dƣới rừng Cao su, tầng đất mặt thƣờng bị nén chặt do giẫm đạp của ngƣời và trâu bò. [7] - Ở Mỹ, ý đồ xây dựng một chƣơng trình nghiên cứu phân loại đất đã có từ những năm 1832 do E.
Ruffin khởi xƣớng, đến năm 1860 W. Hilgard xây dựng bảng phân loại đất và bản đồ đất đầu tiên cho nƣớc Mỹ, trên cơ sở nhận thức: đất là một vật thể tự nhiên, tính chất đất có quan hệ đến thực vật và khí hậu.