Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Để việc bón phân cho cây trồng đạt hiệu quả cao mà không gây ảnh hưởng xấu tới cây trồng và môi trường chúng tac cần quan tâm tìm ra quy trình bón phân phù hợp với đặc điểm của từng loại cây và đất trồng nó. Cơ sở của việc bón phân hợp lý cho cây trồng cần được xây dựng trên cơ sở đảm bảo những yêu cầu cơ bản như: (1) Cây trồng cần được cung cấp đầy đủ và kịp thời chất dinh dưỡng cần thiết để cho năng suất cao, phẩm chất tốt. (2) Không ngừng ổn định và tốt hơn nâng cao độ phì của đất nhằm bảo vệ tư liệu sản xuất không thể thay thế cho người trồng trọt – cơ sở quan trọng cho sản xuất bền vững.
(3) Đem lại lợi nhuận tối đa cho người sản xuất trên cơ sở phối hợp tốt các biện pháp kỹ thuật trồng trọt nhằm nâng cao hiệu suất phân bón để có hiệu quả kinh tế của sản xuất cao. (4) Phù hợp với điều kiện và trình độ sản xuất hiện tại. Để xác định được lượng phân bón hợp lý cho cây trồng, cần chú ý tới các yếu tố như: Đặc điểm sinh lý của cây trồng về nhu cầu dinh dưỡng tổng số và mục tiêu năng suất cần đạt; Đặc điểm đất đai về khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng; Đặc điểm và tình hình phát triển của cây trồng trước; Đặc điểm khí hậu thời tiết vụ cây trồng cần tính lượng phân bón. Hiện nay, nông dân vẫn còn lạm dụng nhiều vào phân bón nhằm tăng năng suất ngô nhưng hiệu quả mà nó mang lại chưa cao, mặt khác còn gây hậu quả như tăng mức độ sâu bệnh, gây ô nhiễm môi trường, thoái hóa đất.
Việc bón phân cho cây ngô theo kinh nghiệm, bón không cân đối, bón theo khả năng kinh tế của mỗi gia đình, bón không hiểu tác dụng của từng loại phân đã dẫn đến tình trạng không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của cây, trong khi ngô lại là những cây rất phàm ăn, lượng dinh dưỡng cây ngô hút rất lớn nhưng ở mỗi giai đoạn sinh trưởng lượng hút rất khác nhau. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ngô còn là cây điển hình được ứng dụng nhiều thành tựu khoa học về các lĩnh vực di truyền học, chọn giống, công nghệ sinh học, cơ giới hoá, điện khí hoá và tin 4 học. vào công tác nghiên cứu và sản xuất (Ngô Hữu Tình, 1997) [31].
Do vậy diện tích, năng suất ngô liên tục tăng trong những năm gần đây. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2009- 2013 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ ha) (triệu tấn) 2009 156,93 50,04 790,18 2010 162,32 51,55 820,62 2011 170,39 51,84 883,46 2012 178,55 48,88 872,79 2013 184,24 55,17 1016,43 (Nguồn FAOSTAT, 2014) [47] Diện tích ngô trên thế giới qua các năm có sự biến đổi rõ rệt. Diện tích không ngừng tăng lên trong những năm trở lại đây đặc biệt là các nước khu vực châu Á. So sánh giữa sản lượng và diện tích cho thấy, từ năm 2009 tới năm 2013 diện tích tăng hơn 28 triệu ha, sản lượng tăng hơn 226 triệu tấn.
Có được kết quả trên, trước hết là nhờ ứng dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác. Đặc biệt, từ năm 1996 đến nay, cùng với những thành tựu mới trong chọn tạo giống ngô lai nhờ kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác cây ngô đã góp phần đưa sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa mì và lúa nước. Sản xuất ngô ở một số châu lục trên thế giới năm 2013 Diện tích Năng suất Sản lượng Khu vực (triệu ha) (tạ/ ha) (triệu tấn) Châu Á 59,40 51,23 304,32 Châu Mỹ 70,84 73,82 522,90 Châu Âu 18,97 61,92 117,48 Châu Phi 34,93 20,33 71,01 (Nguồn FAOSTAT, 2014)[47] 5 Châu Mỹ là khu vực có diện tích trồng ngô lớn nhất thế giới với 70,84 triệu ha, đồng thời đây cũng là châu lục có năng suất và sản lượng ngô cao nhất. Năm 2013 năng suất ngô đạt 73,82 tạ/ha, năng suất bình quân của thế giới chỉ bằng 74,73% năng suất của châu lục này.
Sản lượng đạt 522,90 triệu tấn- chiếm hơn 51% sản lượng ngô trên toàn thế giới. Ở châu Mỹ có trình độ khoa học phát triển cao trong khi Châu Phi nền kinh tế kém phát triển cộng thêm tinh hình chính trị an ninh không đảm bảo đã làm cho sản xuất nông nghiệp ở khu vực này tụt hậu so với nhiều khu vực trên thế giới (Nguồn FAOSTAT, 2014 và UDSA 2012)[47]. Châu Á là châu lục có diện tích trồng ngô lớn thứ 2 với 59,40 triệu ha, nhưng năng suất của khu vực này chỉ đạt 51,23 tạ/ha, thấp hơn so với năng suất trung bình của thế giới. Châu Âu đứng thứ 2 trên thế giới về năng suất đạt 61,92 tạ/ha nhưng lại là khu vực có diện tích trồng ngô thấp nhất (chỉ 18,97 triệu ha), châu Phi có diện tích đứng thứ 3 trên thế giới nhưng có năng suất ngô rất thấp, chỉ đạt 20,33 tạ/ha thấp hơn gần 3 lần so với năng suất bình quân của thế giới, do đó sản lượng ngô của khu vực này cũng thấp nhất.
Nguyên nhân của sự phát triển không đồng đều giữa các châu lục trên thế giới là do sự khác nhau rất lớn về trình độ khoa học kỹ thuật, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế chính trị … Bảng 1. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa mì, gạo lúa của thế giới năm 2013 Diện tích (triệu Năng suất Sản lượng Loại cây trồng ha) (tạ/ha) ( triệu tấn) Ngô 184,24 55,17 1016,43 Lúa mì 218,46 32,65 713,22 Gạo lúa 166,08 44,88 745,17 (Nguồn FAOSTAT, 2014)[47] Diện tích ngô của thế giới năm 2013 đã vượt lúa gạo với 184,24 triệu ha, sản lượng 1016,43 triệu tấn, năng suất 55,17 tạ/ha. Trong khi đó lúa mì và lúa gạo có diện 6 tích, năng suất, sản lượng khá ổn định vào những năm gần đây. Năm 2013 diện tích lúa mì đạt cao nhất trong những cây ngũ cốc với 218,46 triệu ha, năng suất thấp nhất đạt 32,65 tạ/ha, sản lượng đạt 713,22 triệu tấn.
Còn lúa gạo với diện tích thấp nhất 166,08 triệu ha, năng suất đạt 44,88 tạ/ha và sản lượng 745,17 triệu tấn (FAOSTAT, 2014) [47]. Tổ chức FAO đưa ra dự báo sơ bộ sản lượng ngũ cốc thô thế giới năm 2014 chỉ đạt 1.255 triệu tấn, mặc dù cao hơn mức trung bình trong vòng 5 năm qua nhưng vẫn ít hơn năm 2013 là 3,9 triệu tấn. Nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động canh tác giảm tại Hoa Kỳ - quốc gia sản xuất ngũ cốc lớn nhất trên thế giới. Sản lượng sụt giảm tại các nước Ác-hen-ti-na, Brazil và U-krai-na cũng là nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm về sản lượng ngũ cốc toàn cầu.
Sản lượng và diện tích một số cây ngũ cốc quan trọng qua các năm Tổng sản lượng ngô thế giới năm 2014 được dự báo khoảng 967 triệu tấn, giảm 4% so với năm 2013. Diện tích gieo trồng ngô của Hoa Kỳ, nước sản xuất ngô lớn nhất thế giới, trong năm 2014 sẽ bị thu hẹp. Giả sử thời tiết ổn định và năng suất đạt mức trung bình, sản lượng ngô tại nước này ước tính đạt 330 triệu tấn, thấp hơn gần 354 triệu tấn so với năm 2013. Ngược lại, Trung Quốc, quốc gia sản xuất ngô lớn thứ hai thế giới, sản lượng năm 2014 được dự kiến sẽ đạt con số kỷ lục 218 triệu tấn nhờ việc mở rộng diện tích gieo trồng trước bối cảnh nhu cầu đối với các loại ngũ cốc chăn nuôi ngày càng tăng.
Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam Ở Việt Nam, sản xuất lương thực luôn là một nhiệm vụ quan trọng trước mắt và lâu dài, được ưu tiên hàng đầu trong chiến lược sản xuất nông nghiệp. Với điều kiện tự nhiên phong phú, cây ngô sinh trưởng phát triển và phổ biến khắp các vùng trên cả nước. Số liệu bảng 1.4 cho thấy sản xuất ngô của nước ta tăng nhanh về diện tích, năng suất và sản lượng trong giai đoạn 2009 – 2013. Năm 2009 cả nước trồng được 1.086,8 nghìn ha, năm 2013 là 1.172,6 nghìn ha, tăng hơn 80 nghìn ha so với năm 2009.
Việc tăng cường sử dụng giống ngô lai cho năng suất cao kết hợp với các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, áp dụng những thành tựu khoa học đã khiến cho năng suất ngô liên tục tăng trong giai đoạn 2009 – 2013. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam trong giai đoạn 2009- 2013 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tạ/ ha) (nghìn tần) 2009 1.193,5 (FAOSTAT, 2014) [47] Sản lượng ngô năm 2013 đã tăng so với năm 2012 lên mức 5. Tuy diện tích, năng suất và sản lượng ngô của chúng ta đều tăng nhanh nhưng so với bình quân chung của thế giới và khu vực thì năng suất ngô của nước ta còn rất thấp (năm 2011 năng suất ngô của Việt Nam 46,8 tạ/ha, bằng 90,27% năng suất bình quân của thế giới, nhưng đến năm 2013 năng suất ngô giảm nhẹ xuống còn 44,3 tạ/ha. Điều này đặt ra cho ngành sản xuất ngô Việt Nam những thách thức và khó khăn to lớn, đặc biệt là trong xu thế hội nhập và phát triển như hiện nay.
Đòi hỏi đội ngũ chuyên môn cũng như các nhà khoa học trong cả nước tiếp tục lỗ lực, nghiên cứu ra những giống ngô va biện pháp kỹ thuất canh tác hiệu quả để nâng cao năng suất và chất lượng của sản xuất ngô Việt Nam, góp phần vào sự phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam (FAOSTAT, 2014) [47]. 8 Sự phát triển ngô ở Việt Nam đã được CIMMYT và FAO cũng như các nước trong khu vực đánh giá cao. Việt Nam đã đuổi kịp các nước trong khu vực về trình độ nghiên cứu tạo giống ngô và đang ở giai đoạn đầu đi vào công nghệ cao (công nghệ gen, nuôi cấy bao phấn và noãn) (Ngô Hữu Tình, 2003)[34]. * Tình hình sản xuất ngô ở một số vùng trong cả nước Vùng Trung du và miền núi phía Bắc tuy diện tích sản xuất ngô lớn nhất (505,8 nghìn ha) nhưng năng suất lại thấp nhất trong cả nước (37,6 tạ/ha).
Ngược lại vùng đồng bằng sông Cửu Long diện tích sản xuất nhỏ nhất (40,3 nghìn ha), nhưng lại cho năng suất cao (56,1 tạ/ha) thứ 2 chỉ sau Đông Nam Bộ (57,6 tạ/ha).