Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây ăn quả có múi (Citrus) giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp tại Việt Nam nhờ giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế. Tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng đồi núi đặc thù rất thích hợp cho sự phát triển của giống cam sành (Citrus nobilis Lour). Thương hiệu "Cam sành Hàm Yên" được công nhận chính thức từ tháng 12/2007, lọt vào danh mục Top 50 trái cây đặc sản nổi tiếng nhất Việt Nam và đạt danh hiệu "Thương hiệu vàng nông nghiệp Việt Nam năm 2015". Cây cam đóng vai trò chủ lực trong việc tạo sinh kế, xóa đói giảm nghèo và nâng cao thu nhập cho cư dân địa phương.

Tuy nhiên, thực trạng sản xuất cam tại huyện Hàm Yên đang đối mặt với nhiều hạn chế kỹ thuật:

  • Quy mô canh tác của các hộ gia đình còn phân tán, nhỏ lẻ.
  • Công tác quản lý và tuyển chọn cây giống chưa đồng bộ; các vườn giống cũ có biểu hiện thoái hóa rõ rệt, thiếu các dòng ưu tú để phát triển đại trà.
  • Quả cam sành địa phương vẫn tồn tại nhược điểm thương phẩm như vị chua nhiều và số lượng hạt trên quả cao, làm giảm sức cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ quả tươi.
  • Diện tích canh tác có xu hướng thu hẹp; tiến bộ khoa học kỹ thuật chưa được áp dụng đồng bộ dẫn đến hiện tượng vườn cây nhanh cằn cỗi, áp lực sâu bệnh hại gia tăng, một số diện tích suy giảm mạnh về năng suất và chất lượng sau thời kỳ thu hoạch đỉnh điểm, thậm chí xuất hiện tình trạng cây chết hàng loạt.

Nhằm giải quyết các bất cập trên, đề tài khóa luận "Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống cam không hạt và ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và phân bón lá tới khả năng đậu quả giống cam sành tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang" được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định gồm:

  1. Đánh giá đặc điểm nông sinh học của một số giống cam không hạt trồng tại Hàm Yên nhằm chọn lọc giống cây có triển vọng, thích ứng tốt với điều kiện địa phương.
  2. Xác định ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và phân bón lá đến khả năng đậu quả của giống cam sành, tạo cơ sở nâng cao năng suất và chất lượng quả cam thương phẩm tại địa bàn nghiên cứu.

Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng hình thái (chiều cao cây, đường kính tán, đặc điểm phân cành, kích thước và hình thái lá) và đặc điểm đợt lộc Xuân của các giống cam không hạt khảo nghiệm so với đối chứng.
  2. Điều tra thành phần và mức độ gây hại của các đối tượng sâu, bệnh hại chính trên các giống cam khảo nghiệm.
  3. Đánh giá ảnh hưởng của việc phun chế phẩm Gibberellin (GA3) và phân bón lá Đầu Trâu đến thời gian nở hoa và động thái đậu quả của cây cam sành.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Giống cam Mật không hạt, giống cam V2, giống cam sành không hạt LĐ6, giống cam sành Hàm Yên (đối chứng); phân bón lá Đầu Trâu 902 và chất kích thích sinh trưởng GA3 Thiên Nông.
  • Phạm vi không gian: Vườn cam của hộ nông dân tại xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
  • Phạm vi thời gian: Thực hiện từ tháng 01/2017 đến tháng 05/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Nghiên cứu được thiết lập dựa trên quy luật phát triển sinh lý của cây có múi: chu kỳ sinh trưởng trong năm gồm nhiều đợt phát lộc (lộc Xuân, lộc Hè, lộc Thu, lộc Đông), trong đó lộc Xuân giữ vai trò hình thành cành mang hoa và quả chính vụ. Cơ chế hình thành quả không hạt ở chi Citrus được tổng quan từ các nguyên nhân: tam bội thể ($3x$), hiện tượng trinh sản tự nhiên, bất dục đực hoặc bất dục cái (tự nhiên hoặc do xử lý đột biến), và tính tự bất hòa hợp (self-incompatibility). Về can thiệp hóa sinh học nông nghiệp, chất điều hòa sinh trưởng Gibberellin (GA3) có vai trò ức chế tầng rời cuống quả, bổ sung phytohormone nội sinh thiếu hụt trong phôi hạt, từ đó giảm tỷ lệ rụng quả sinh lý; phân bón lá cung cấp trực tiếp các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng qua khí khổng và gian bào với hiệu suất hấp thu cao, hỗ trợ cây nuôi hoa và quả non.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng được áp dụng thông qua hai thí nghiệm độc lập:

  1. Thí nghiệm 1: Đánh giá đặc điểm nông sinh học của các giống cam không hạt.
  • Vật liệu: 4 công thức tương ứng với 4 giống: CT1 (Cam Mật không hạt), CT2 (Cam V2), CT3 (Cam sành không hạt LĐ6), CT4 (Cam sành Hàm Yên - đối chứng).
  • Quy cách: Bố trí trên vườn cam trồng tháng 4/2015 (cây 2 năm tuổi) tại xã Yên Lâm theo khối ngẫu nhiên, chăm sóc cùng một nền kỹ thuật. Mỗi công thức theo dõi 5 cây, nhắc lại 3 lần (15 cây/công thức; tổng cộng 60 cây thí nghiệm). Hàng bảo vệ xung quanh trồng giống cam sành không hạt LĐ6 ghép trên gốc chanh Volkameriana và cam Mật.
  • Chỉ tiêu theo dõi: Chiều cao vút ngọn (cm), đường kính tán (cm), chiều cao phân cành cấp 1, số cành cấp 1, góc độ phân cành; chiều dài, chiều rộng, màu sắc, dạng eo lá; ngày xuất hiện và kết thúc lộc Xuân; thành phần, mật độ sâu hại (sâu vẽ bùa, rệp sáp, nhện đỏ) và chỉ số bệnh loét lá (Xanthomonas campestris pv. citri).
  1. Thí nghiệm 2: Thử nghiệm chất điều hòa sinh trưởng và phân bón lá trên giống cam sành.
  • Vật liệu: Cây cam sành 7 năm tuổi trong giai đoạn kinh doanh ổn định tại xã Yên Lâm.
  • Các công thức thí nghiệm:
    • CT1: Đối chứng (phun nước lã).
    • CT2: Phun GA3 Thiên Nông.
    • CT3: Phun phân bón lá Đầu Trâu 902.
    • CT4: Phun kết hợp GA3 Thiên Nông và phân bón lá Đầu Trâu 902.
  • Phương pháp bố trí: Theo phương pháp khảo nghiệm cây ăn quả lâu năm (Phạm Chí Thành, 1998). Mỗi công thức bố trí 3 cây, mỗi cây là 1 lần nhắc lại (tổng số 12 cây thí nghiệm), thực hiện trên cùng một nền chăm sóc cơ bản.
  • Kỹ thuật xử lý: Phun ướt đều toàn bộ chùm nụ, hoa, quả non vào lúc trời râm mát theo 3 thời điểm: lần 1 trước khi hoa nở 5–7 ngày; lần 2 khi hoa nở rộ; lần 3 sau khi tắt hoa 5 ngày.
  • Chỉ tiêu theo dõi: Thời gian bắt đầu nở hoa (10%), nở rộ (75%), kết thúc nở hoa; số lượng hoa/quả rụng và tỷ lệ đậu quả ổn định theo các chu kỳ kiểm đếm định kỳ (ngày 03/04, 12/04 và 22/04/2017).

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp tại thực địa thí nghiệm và dữ liệu thứ cấp về diện tích, sản lượng trích xuất từ FAOSTAT, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tuyên Quang. Số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê bằng phần mềm IRRISTAT và Microsoft Excel.


Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả phân tích tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tiềm năng kinh tế của cây ăn quả có múi và hạn chế thực tế của giống cam sành Hàm Yên (chua, nhiều hạt, nhanh thoái hóa). Mục đích, yêu cầu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn được định hình rõ ràng: tạo cơ sở dữ liệu về tính tương thích của các giống cam không hạt mới nhập nội/chọn tạo, đồng thời xác lập giải pháp kỹ thuật nâng cao tỷ lệ đậu quả cho vùng sản xuất cam tập trung tại Tuyên Quang.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp hệ thống lý luận và thực tiễn qua các nhóm nội dung:

  • Cơ sở sinh học và điều kiện ngoại cảnh: Trình bày yêu cầu sinh thái của cây có múi về nhiệt độ (thích hợp 23–27°C, giới hạn 12–39°C), ánh sáng tán xạ (khoảng 10.000 lux), độ ẩm không khí (75%), độ ẩm đất (60%) và độ pH thích hợp (5,5–6,0).
  • Phân loại và nguồn gốc giống: Nguồn gốc Đông Nam Á của chi Citrus; đặc điểm di truyền của giống cam sành (Citrus nobilis), giống cam ngọt V2 (chọn lọc từ dòng Valencia Olinda qua vi ghép sạch bệnh), cam sành không hạt LĐ6 (tạo ra từ chiếu xạ tia gamma mầm ngủ dòng CS8 bởi Viện Cây ăn quả miền Nam), và cam Mật không hạt (chọn lọc cá thể đột biến tự nhiên).
  • Tình hình sản xuất cam quýt: Phân tích dữ liệu sản xuất toàn cầu (năm 2014 toàn thế giới đạt 3.885,9 nghìn ha, sản lượng 70.856,3 nghìn tấn); dữ liệu sản xuất tại Việt Nam (năm 2014 đạt 75,6 nghìn ha, sản lượng 736,1 nghìn tấn); và số liệu chuyên canh tại Hàm Yên năm 2014 (toàn huyện có 4.930,0 ha cam, tập trung lớn nhất tại xã Phù Lưu với 1.619,0 ha).
  • Tổng quan các nghiên cứu chuyên ngành: Khái quát cơ chế tạo quả không hạt, sinh lý hấp thụ dinh dưỡng qua bề mặt lá (hấp thu tới 95% lượng phân bón dạng hòa tan), và các nghiên cứu ứng dụng GA3, NAA nhằm kích thích đậu quả, hạn chế hiện tượng rụng quả sinh lý và ra quả cách năm.
Vùng sản xuất tại Việt Nam (Năm 2014) Tổng diện tích (nghìn ha) Diện tích cho thu hoạch (nghìn ha) Tổng sản lượng (nghìn tấn)
Đồng bằng sông Cửu Long 39,2 33,8 496,0
Trung du và miền núi phía Bắc 15,7 9,3 75,3
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 15,7 5,3 48,9
Đông Nam Bộ 6,2 4,5 51,6
Đồng bằng sông Hồng 5,4 4,8 59,8
Tây Nguyên 1,0 0,6 4,5
Cả nước 75,6 58,3 736,1

Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết vị trí thực địa tại xã Yên Lâm; sơ đồ bố trí Thí nghiệm 1 (4 công thức giống x 3 lần nhắc lại) và Thí nghiệm 2 (4 công thức phân bón/chất điều hòa x 3 lần nhắc lại); phương pháp đo đếm hình thái thân, cành, lá, lộc; phương pháp giám sát mật độ sâu và phân cấp chỉ số bệnh hại (cấp 0 đến cấp 3); công thức tính tỷ lệ đậu quả và tỷ lệ rụng hoa/quả.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này phản ánh toàn bộ số liệu đo đạc thực tế từ tháng 01/2017 đến tháng 05/2017:

  1. Đặc điểm hình thái và sinh trưởng sinh dưỡng: Các giống cam không hạt 2 năm tuổi đều thể hiện khả năng sinh trưởng chiều cao và phát triển tán vượt trội so với giống cam sành Hàm Yên địa phương ở độ tin cậy 95% ($P < 0,05$).
Chỉ tiêu hình thái cây (Thời điểm Tháng 5/2017) Chiều cao cây (cm) Đường kính tán (cm) Số cành cấp 1 (cành) Chiều cao phân cành cấp 1 (cm) Góc phân cành cấp 1 (độ)
CT1: Giống cam Mật không hạt 254,07 172,80 4,00 38,60 30,33
CT2: Giống cam V2 262,80 192,97 3,00 33,30 34,00
CT3: Giống cam sành không hạt LĐ6 283,20 187,77 3,87 41,07 29,67
CT4: Cam sành Hàm Yên (Đối chứng) 221,53 142,67 3,40 35,33 26,00
  1. Đặc điểm hình thái lá và thời gian xuất hiện lộc Xuân:
  • Lá giống cam V2 có kích thước lớn nhất (dài 15,3 cm; rộng 7,58 cm), phiến màu xanh bóng, eo nhỏ. Giống cam Mật có kích thước lá trung bình (dài 14,1 cm; rộng 6,08 cm), màu xanh đậm với đặc điểm eo lá to dài điển hình. Giống LĐ6 có phiến lá nhỏ nhất (dài 8,7 cm; rộng 4,4 cm), mép lá cong gợn sóng và bề mặt sần, tương đồng về hình thái với giống cam sành đối chứng (dài 10,8 cm; rộng 5,0 cm).
  • Đợt lộc Xuân của cả 4 giống xuất hiện đồng loạt vào cuối tháng 2 (25/02 – 27/02/2017) và kết thúc vào đầu tháng 4 (09/04 – 10/04/2017), chu kỳ phát lộc kéo dài từ 42 đến 43 ngày.
  1. Tình hình sâu bệnh hại:
  • Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella) gây hại mức độ trung bình (++) trên giống cam sành đối chứng và cam sành LĐ6; mức độ nhẹ (+) trên cam V2 và cam Mật.
  • Rệp sáp (Pseudococcus sp.) gây hại trung bình (++) trên cam V2 và cam sành LĐ6; gây hại nhẹ (+) trên cam Mật và cam sành đối chứng.
  • Nhện đỏ (Panonychus citri) gây hại nặng (+++) trên giống cam sành đối chứng, gây hại trung bình (++) trên cả 3 giống cam không hạt.
  • Bệnh loét vi khuẩn (Xanthomonas campestris pv. citri) gây hại ở mức cấp 1 (diện tích vết bệnh $< 10%$) đối với cam Mật và cam V2; gây hại mức cấp 2 (diện tích vết bệnh 11–25%) đối với cam sành LĐ6 và giống đối chứng.
  1. Ảnh hưởng của GA3 và phân bón lá Đầu Trâu 902 trên cây cam sành 7 năm tuổi:
  • Thời gian nở hoa: Các công thức xử lý không làm biến động đáng kể thời gian nở hoa. Chu kỳ từ khi nở hoa đến khi kết thúc dao động trong khoảng 27–28 ngày (bắt đầu nở từ 12/03 – 15/03/2017; nở rộ từ 27/03 – 29/03/2017; kết thúc vào 10/04 – 12/04/2017).
  • Động thái và tỷ lệ đậu quả: Việc can thiệp GA3 đơn lẻ hoặc phối hợp với phân bón lá làm tăng rõ rệt số lượng quả đậu và tỷ lệ đậu quả qua các đợt theo dõi.
Công thức thí nghiệm Ngày 03/04/2017 (Tỷ lệ đậu %) Ngày 12/04/2017 (Tỷ lệ đậu %) Ngày 22/04/2017 (Tỷ lệ đậu %) Số quả đậu ổn định ngày 22/04 (quả)
CT1: Nước lã (Đối chứng) 18,86 12,81 10,68 10,00
CT2: Phun GA3 Thiên Nông 27,94 24,70 20,65 17,00
CT3: Phân bón lá Đầu Trâu 902 23,34 18,47 15,33 14,67
CT4: GA3 Thiên Nông + Đầu Trâu 902 23,19 20,78 18,98 21,00

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Khóa luận tổng kết ngắn gọn khả năng sinh trưởng ưu thế của 3 giống cam không hạt (đặc biệt là giống LĐ6 và V2) và hiệu quả nâng cao khả năng giữ quả của GA3 và phân bón lá trên giống cam sành tại Hàm Yên, đưa ra các kiến nghị kỹ thuật phục vụ sản xuất.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm nông học cụ thể tại địa bàn huyện Hàm Yên:

  • Xác định được các chỉ số sinh trưởng sinh dưỡng vượt trội của các giống cam không hạt ở giai đoạn 2 năm tuổi: Giống cam sành không hạt LĐ6 đạt chiều cao cây cao nhất (283,20 cm, vượt đối chứng 61,67 cm); giống cam V2 có đường kính tán phát triển rộng nhất (192,97 cm, vượt đối chứng 50,30 cm). Cả 3 giống khảo nghiệm (Mật không hạt, V2, LĐ6) đều có góc phân cành hướng đứng ($< 45^\circ$) và số cành cấp 1 dao động từ 3,0 đến 4,0 cành/cây.
  • Đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh: Các giống cam V2 và cam Mật không hạt có mức độ nhiễm bệnh loét thấp hơn (cấp 1) và ít bị sâu vẽ bùa gây hại hơn so với giống cam sành Hàm Yên địa phương.
  • Xác định hiệu quả của các biện pháp hóa sinh nông nghiệp trong việc chống rụng quả: Phun GA3 Thiên Nông (CT2) giúp tỷ lệ đậu quả đạt mức cao nhất tại thời điểm ổn định ngày 22/04/2017 (đạt 20,65%, gần gấp đôi so với công thức đối chứng chỉ đạt 10,68%). Công thức phối hợp GA3 với phân bón lá Đầu Trâu 902 (CT4) duy trì số lượng quả đậu tuyệt đối cao nhất trên các chùm theo dõi (đạt 21,00 quả đậu so với 10,00 quả ở công thức đối chứng).

Đề xuất giải pháp kỹ thuật từ tác giả:

  • Khuyến nghị sử dụng chế phẩm GA3 Thiên Nông và phân bón lá Đầu Trâu 902 phun vào 3 giai đoạn trọng điểm (trước nở hoa 5–7 ngày, khi hoa nở rộ và sau khi tắt hoa 5 ngày) nhằm hạn chế rụng quả sinh lý cho các vườn cam sành tại Hàm Yên.
  • Đề xuất tiếp tục nhân rộng diện tích khảo nghiệm đối với các dòng cam không hạt có triển vọng sinh trưởng tốt (cam V2, cam sành LĐ6).

Đóng góp mới của tác giả: Bổ sung dẫn liệu khoa học thực tế đầu tiên về sự thích ứng nông sinh học của các giống cam không hạt mới (V2, Mật không hạt, LĐ6) tại tiểu vùng khí hậu xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên; chứng minh bằng số liệu định lượng về khả năng duy trì tỷ lệ đậu quả của cây cam sành khi xử lý GA3 ngoại sinh kết hợp phân bón lá qua các chu kỳ theo dõi liên tục.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số điểm hạn chế do giới hạn về mặt thời gian và điều kiện thực địa:

  • Thời gian theo dõi chỉ diễn ra trong vòng 5 tháng (từ tháng 01/2017 đến tháng 05/2017), chỉ bao quát được giai đoạn lộc Xuân, nở hoa và đậu quả non, chưa thể theo dõi toàn bộ chu kỳ sinh trưởng của quả cho tới khi chín và thu hoạch.
  • Đối với Thí nghiệm 1 trên các giống cam không hạt: Cây mới ở độ tuổi 2 năm (trồng từ tháng 4/2015), đang trong thời kỳ kiến thiết cơ bản nên khóa luận chỉ đánh giá được các chỉ tiêu sinh trưởng sinh dưỡng thân, tán, cành, lá và tính kháng sâu bệnh ban đầu; chưa đánh giá được năng suất quả thực tế, phẩm chất quả (độ Brix, hàm lượng nước, độ dày vỏ) và tính ổn định của đặc tính không hạt trên đồng ruộng Hàm Yên.
  • Đối với Thí nghiệm 2: Nghiên cứu mới dừng lại ở tỷ lệ đậu quả non đến ngày 22/04/2017, chưa theo dõi được ảnh hưởng của GA3 và phân bón lá đến trọng lượng quả thu hoạch cuối vụ, mẫu mã quả và hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích canh tác.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung:

  • Tiếp tục theo dõi các giống cam không hạt trong giai đoạn kinh doanh để đánh giá năng suất quả thực tế, phẩm chất thương phẩm và độ thích nghi sinh thái lâu dài.
  • Nghiên cứu hoàn thiện nồng độ, liều lượng và thời điểm phun kết hợp tối ưu giữa các chất điều hòa sinh trưởng khác nhau với các dòng phân bón lá chuyên dùng trong suốt chu kỳ nuôi quả của cây cam sành Hàm Yên.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo thiết thực cho các đối tượng:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Nông học, Cây trồng, Công nghệ sản xuất rau hoa quả: Tài liệu cung cấp mẫu chuẩn về phương pháp thiết lập thí nghiệm cây ăn quả lâu năm ngoài đồng ruộng, phương pháp kiểm đếm chỉ tiêu hình thái lộc, hoa, quả và phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm IRRISTAT.
  • Cán bộ khuyến nông và cơ quan quản lý nông nghiệp tại Hàm Yên, Tuyên Quang và vùng Trung du miền núi phía Bắc: Dữ liệu về tình hình sinh trưởng của cam V2, cam sành LĐ6 và quy trình phun GA3 phối hợp phân bón lá là tài liệu kỹ thuật hữu ích phục vụ xây dựng kế hoạch chuyển đổi cơ cấu giống cam và chỉ đạo kỹ thuật thâm canh tăng đậu quả.
  • Các hộ gia đình và trang trại trồng cam sành: Tham khảo trực tiếp thời điểm xử lý phun GA3 và phân bón lá Đầu Trâu 902 (trước nở hoa, nở rộ và tắt hoa) để cải thiện tỷ lệ đậu quả non, khắc phục tình trạng rụng hoa quả sinh lý trên các vườn cam đang cho thu hoạch.

Câu hỏi thường gặp

1. Trong các giống khảo nghiệm tại xã Yên Lâm, giống cam nào đạt chỉ số sinh trưởng chiều cao và tán cây tốt nhất?
Số liệu tháng 5/2017 ghi nhận giống cam sành không hạt LĐ6 đạt chiều cao cây cao nhất là 283,20 cm (vượt giống cam sành địa phương 61,67 cm). Về quy mô tán, giống cam V2 đạt đường kính tán lớn nhất là 192,97 cm (vượt giống đối chứng 50,30 cm). Cả 3 giống cam không hạt đều sinh trưởng mạnh hơn giống cam sành đối chứng ở độ tin cậy 95%.

2. Việc xử lý chất điều hòa sinh trưởng GA3 và phân bón lá Đầu Trâu 902 có làm thay đổi thời gian nở hoa của cây cam sành không?
Kết quả thực nghiệm cho thấy việc phun GA3 Thiên Nông và phân bón lá Đầu Trâu không làm thay đổi đáng kể chu kỳ nở hoa của cam sành. Thời gian từ khi bắt đầu nở hoa (10%) đến khi kết thúc nở hoa ở tất cả các công thức dao động trong khoảng 27–28 ngày (bắt đầu nở ngày 12/03 – 15/03/2017 và kết thúc ngày 10/04 – 12/04/2017).

3. Công thức nào đem lại tỷ lệ đậu quả cam sành cao nhất tại thời điểm kiểm đếm ngày 22/04/2017?
Công thức 2 (chỉ phun GA3 Thiên Nông) cho tỷ lệ đậu quả cao nhất, đạt 20,65% (so với công thức đối chứng phun nước lã chỉ đạt 10,68%). Tuy nhiên, công thức 4 (phối hợp GA3 Thiên Nông và phân bón lá Đầu Trâu 902) giúp giữ lại số lượng quả đậu tuyệt đối cao nhất trên các chùm theo dõi, đạt 21,00 quả (công thức đối chứng chỉ giữ được 10,00 quả).

4. Mức độ gây hại của sâu vẽ bùa và bệnh loét trên các giống cam không hạt có gì khác biệt so với cam sành đối chứng?
Giống cam sành Hàm Yên (đối chứng) và cam sành LĐ6 bị sâu vẽ bùa gây hại ở mức trung bình (++), trong khi cam V2 và cam Mật chỉ bị hại nhẹ (+). Về bệnh loét vi khuẩn (Xanthomonas campestris pv. citri), giống cam Mật và cam V2 có mức độ nhiễm bệnh nhẹ ở cấp 1 (diện tích vết bệnh $< 10%$), còn cam sành LĐ6 và giống cam sành đối chứng bị nhiễm ở cấp 2 (diện tích vết bệnh từ 11–25%).

5. Nguồn gốc chọn tạo của giống cam sành không hạt LĐ6 và giống cam Mật không hạt được văn bản ghi nhận như thế nào?
Giống cam sành không hạt LĐ6 do Viện Cây ăn quả miền Nam chọn tạo bằng phương pháp chiếu xạ tia gamma trên mầm ngủ của dòng cam sành CS8 thương phẩm (được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận tháng 12/2010). Giống cam Mật không hạt cũng do Viện Cây ăn quả miền Nam (nhóm nghiên cứu của Trần Thị Oanh Yến) chọn lọc từ các cây trồng hạt tự nhiên qua 6 năm khảo nghiệm (được công nhận lưu hành vào tháng 4/2010).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thu Trang đã thực hiện thành công việc khảo nghiệm đặc điểm nông sinh học của 3 giống cam không hạt (Mật không hạt, V2, LĐ6) so với giống cam sành Hàm Yên tại xã Yên Lâm, xác định các giống mới có sức sinh trưởng dinh dưỡng và khả năng chống chịu sâu bệnh vượt trội ở giai đoạn 2 năm tuổi. Đồng thời, nghiên cứu khẳng định hiệu lực rõ rệt của biện pháp xử lý chế phẩm kích thích sinh trưởng GA3 Thiên Nông đơn lẻ và kết hợp với phân bón lá Đầu Trâu 902 trong việc duy trì tỷ lệ đậu quả trên cây cam sành 7 năm tuổi, nâng tỷ lệ đậu quả từ 10,68% lên 20,65%. Các kết quả thực nghiệm này là cơ sở khoa học và thực tiễn xác đáng phục vụ công tác quy hoạch giống và hoàn thiện kỹ thuật thâm canh cây ăn quả có múi tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.