MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài: Một trong những thành tựu quan trọng của ngành khoa học vật liệu trong những năm gần đây là nghiên cứu, chế tạo và ứng dụng hiệu quả các loại vật liệu polymer composite trong đó có vật liệu polymer composite gia cường cốt hạt, ứng dụng trong sản xuất đá ốp lát nhân tạo. Vật liệu composite cốt hạt có tiềm năng phát triển và ứng dụng rất lớn do có các tính chất cơ lý cao. Tính chất của vật liệu polymer composite cốt hạt phụ thuộc chủ yếu vào 2 yếu tố: pha nền và pha gia cường có ảnh hưởng trực tiếp đến các tính chất thì ngoài ra còn có chất liên kết cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Hiện nay, sự phát triển của vật liệu polymer composite cốt hạt đặc biệt trong sản xuất đá nhân tạo ngày càng lớn chính vì vậy các tính chất của vật liệu polymer composite cốt hạt ngày càng có các yêu cầu cao để phù hợp trong sản xuất cũng như ứng dụng.
Để làm được điều đó hiện nay các nhà nghiên cứu đã cải thiện các tính chất cơ lý của vật liệu polymer composite cốt hạt bằng cách sử dụng chất liên kết. Chính vì thế, việc lựa chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng và phương pháp biến 3-METHACRYLOXYPROPYLTRIMETHOXY SILANE đến tính chất cơ lý của vật liệu polymer composite cốt hạt” là cần thiết để ứng dụng trong sản xuất đá nhân tạo nói riêng và vật liệu polymer composite cốt hạt nói chung. Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu vai trò ảnh hưởng của chất ghép silane đối với vật liệu polymer composite cốt hạt.Tìm ra phương pháp biến tính tối ưu nhất để áp dụng trong nghiên cứu và sản xuất. Nội dung nghiên cứu: • Khảo sát ảnh hưởng của quá trình biến tính silane đến tính chất của vật liệu • Khảo sát ảnh hưởng của tỉ lệ silane đến tính chất cơ lý của vật liệu Ý nghĩa khoa học và thực tiễn: Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu lựa chọn ra phương pháp biến tính tối ưu nhất để áp dụng trong nghiên cứu và sản xuất.
Sử dụng chất liên kết 3- 2 methacryloxypropyltrimethoxy silane trong quy trình biến tính và làm mẫu đã cho kết quả tính chất cơ lý cao. Sử dụng phương pháp biến tính gián tiếp giúp tăng tính chất vật liệu cũng như giảm được lượng sự phát thải dung môi (ethanol) ra ngoài môi trường. Ý nghĩa thực tế: Đề tài nghiên cứ đã thành công trong việc chứng minh phương pháp biến tính gián tiếp thông qua cho silane vào trong nhựa nền cho tính chất cơ lý tốt hơn so với phương pháp trực tiếp. Và chất liên kết 3- methacryloxypropyltrimethoxy silane rất phù hợp dùng để nghiên cứu tính chất vật liệu composite cốt hạt cũng như ứng dụng vào trong sản xuất công nghiệp.
Tổng quan về vật liệu Polymer composite [1]. Từ rất lâu về trước vật liệu Composite đã xuất hiện trong đời sống của con người, khoảng 5000 năm trước Công nguyên người cổ đại đã biết vận dụng nó vào cuộc sống. Người Ai Cập cổ đã biết sử dụng vật liệu Composite bằng lau, sậy tẩm pitum để làm vỏ tàu thuyền vào khoảng 3000 năm trước Công nguyên, về sau này các thuyền đan bằng tre chát mùn cưa và nhựa thông hay các vách tường đan tre chát bùn với rơm, dạ là những sản phẩm Composite đã được con người áp dụng rộng rãi trong đời sống xã hội. Tuy nhiên sự phát triển của vật liệu composite mới được khẳng định và mang tính đột biến là vào những năm 1930, khi Stayer và Thomat đã nghiên cứu, ứng dụng thành công sợi thủy tinh, Fillis và Foster dùng gia cường cho Polyeste không no và giải pháp này đã được áp dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp máy bay, tàu chiến phục vụ cho thế chiến hai.
Năm 1950 cũng là một bước đột phá quan trọng với sự xuất hiện của nhựa Epoxy và các sợi gia cường như Polyeste, nylon,. Từ năm 1970 đến nay vật liệu composite nền chất dẻo đã được đưa vào sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống như công nghiệp, y tế, thể thao, quân sự… Mặc dù ra đời sớm nhưng việc tạo nên các vật liệu composite hiện đại chỉ thực sự bắt đầu vào những năm 40 của thế kỷ XX với các sự kiện điển hình: • Nhựa phenolic gia cường bằng amian được sản xuất vào đầu thế kỷ XX. • Chiếc tàu đầu tiên làm bằng vật liệu polymer composite sợi thủy tinh xuất hiện vào năm 1942. • Sáng chế kỹ thuật cuộn sợi vào năm 1946 được ứng dụng trong lĩnh vực chế tạo tên lửa vào năm 1950.
• Composite nền kim loại bor/nhôm được sản xuất vào năm 1970. • Vào những năm 1970, ứng dụng của composite đã trở nên phổ biến trong các ngành hàng không, ô tô, dụng cụ thể thao và y sinh. • Việt Nam, vật liệu polymer composite gia cường bằng sợi thủy tinh bắt đầu phát triển từ đầu những năm 1990. Các loại tàu thuyền, cano, xuồng, bồn chứa đã được chế tạo.
4 • Đá nhân tạo là một loại vật liệu composite nền polymer gia cường bằng bột và hạt thạch anh đã được sản xuất ở quy mô công nghiệp ở Việt Nam vào đầu những năm 2000. Về mặt cấu tạo, vật liệu polymer composite bao gồm một hay nhiều pha gián đoạn phân bố đều trong một pha nền liên tục. Pha gián đoạn thường có tính chất trội hơn pha liên tục. Pha liên tục được gọi là pha nền, pha gián đoạn được gọi là cốt hay vật liệu gia cường [2, 3].
Vật liệu polymer composite ngoài thành phần là pha nền và pha gia cường còn có thành phần khác như chất liên kết (chất ghép nối), bột màu, phụ gia,… Vật liệu nền là pha liên tục, đảm bảo cho sự liên kết và làm việc hài hòa giữa các thành phần trong vật liệu composite. Ngoài ra, vật liệu nền cũng quyết định một phần lớn khả năng chịu nhiệt, chịu ăn mòn của vật liệu và nó cũng là cơ sở để xác định công nghệ chế tạo sản phẩm. Chất gia cường có thể làm bằng tất cả các loại vật liệu: kim loại, ceramic, polymer, thạch anh…. Tính chất cơ lý của vật liệu composite phụ thuộc nhiều vào loại và khối lượng của vật liệu gia cường.
Với vật liệu gia cường là sợi thì tính chất cơ lý của vật liệu composite còn phụ thuộc vào hướng của sợi gia cường. Chất độn và phụ gia được sử dụng không chỉ với mục đích giảm giá thành của sản phẩm mà còn nhằm giúp cho sản phẩm đạt được những tính chất riêng mà nếu sản phẩm composite không có nó thì không thể có được như: tăng độ bền cơ, giảm độ co ngót, tăng độ bền cháy, tăng khả năng chịu thời tiết,… của sản phẩm composite [2, 3]. Vật liệu polymer composite gia cường bằng cốt sợi. Trong thành phần của vật liệu polymer composite, chất gia cường được sử dụng là các loại sợi khác nhau.
Một số loại sợi truyền thống và phổ biến thường sử dụng trong chế tạo vật liệu polymer composite cốt sợi bao gồm: sợi thủy tinh, sợi cacbon, sợi bo, sợi kevlar tạo ra vật liệu polymer composite có tính chất cơ lý rất tốt như: độ bền kéo, độ bền uốn, độ bền va đập có giá trị cao…. Tuy nhiên, do phế thải của vật liệu polymer composite gia cường bằng các loại sợi truyền thống này rất khó phân hủy, vì vậy, trong vài thập kỷ trở lại đây, các nhà khoa học đã nghiên cứu vật liệu polymer composite có khả năng phân hủy sinh học bằng việc sử dụng 5 các loại sợi có nguồn gốc tự nhiên như sợi tre, sợi đay, sợi dứa…để làm vật liệu gia cường [4, 5, 6]. Một số nhược điểm của vật liệu polymer composite đi từ sợi tự nhiên trong quá trình gia công và sử dụng như: khả năng gia công ở nhiệt độ cao kém, tính chất cơ học kém, độ hút ẩm của vật liệu cao… đã được cải thiện bằng cách lai tạo sợi tự nhiên với sợi tổng hợp và biến tính bề mặt sợi tự nhiên. Vật liệu polymer composite gia cường bằng cốt sợi có một số ưu điểm so với vật liệu polymer composite cốt hạt như: độ bền kéo và độ bền va đập tốt hơn, tỷ trọng nhẹ hơn và có tính chất định hướng.
Bên cạnh đó, vật liệu polymer composite cốt sợi có một số nhược điểm so với vật liệu polymer composite cốt hạt như: khả năng gia công khó khăn do tính chất bất đẳng hướng của sợi, độ bền nén thấp, các tính chất bề mặt như độ bóng và độ cứng thấp, và giá thành của vật liệu polymer composite cốt sợi cao hơn do giá thành của sợi gia cường cao hơn giá thành của cốt liệu hạt [6, 7]. Vật liệu polymer composite gia cường bằng cốt hạt. Polymer composite cốt hạt là vật liệu polymer composite được gia cường bằng các hạt với các kích thước và hình dạng khác nhau. Một số cốt liệu hạt được sử dụng trong chế tạo vật liệu polymer composite cốt hạt như: thạch anh, thủy tinh, mica, cát, cao lanh,.
Cốt liệu hạt thường được sử dụng làm vật liệu gia cường trong các trường hợp như: cần tăng cường một số tính chất của vật liệu polymer composite như: khả năng chịu nhiệt, chịu mài mòn, giảm độ co ngót; cần khắc phục một số khó khăn trong gia công hay cần một số tính chất bề mặt tốt như độ cứng và độ bóng cao. • Ưu điểm của vật liệu polymer composite cốt hạt: Về giá thành: Do các cốt liệu hạt chủ yếu có sẵn trong tự nhiên nên giá thành của vật liệu composite cốt hạt thường rẻ hơn so với polymer composite dạng sợi. Khả năng gia công, chế tạo: Do có tính đẳng hướng (isotropic) nên dễ dàng thi công hơn so với vật liệu polymer composite dạng sợi có tính bất đẳng hướng (anisotropic). Tính chất cơ lý hóa: Vật liệu polymer composite cốt hạt thường có tính chất kéo kém hơn so với vật liệu polymer composite dạng sợi do cốt liệu hạt thường có kích thước và hướng giống nhau nên chúng hầu như không thể hiện được hiệu ứng 6 định hướng như trong vật liệu polymer composite dạng sợi.
Tuy nhiên chúng lại có một số các tính chất cơ lý khác vượt trội như độ bền nén, độ bóng bề mặt, độ cứng bề mặt…. Cốt hạt sử dụng làm vật liệu gia cường trong vật liệu polymer composite bao gồm thạch anh và thủy tinh tái chế là vật liệu thân thiện môi trường nên cũng đáp ứng tiêu chí của vật liệu polymer composite sinh thái. Vật liệu composit cốt hạt - ứng dụng làm đá nhân tạo. Trong nhiều năm trở lại đây ngành khoa học vật liệu đã đạt được nhiều thành tựu về nghiên cứu, chế tạo và ứng dụng hiệu quả các loại vật liệu polymer composite, trong đó vật liệu polymer composite cốt hạt ứng dụng trong sản xuất đá nhân tạo.