PHẦN MỞ ĐẦU I. Tính cấp thiết của đề tài: Theo nhu cầu phát triển của xã hội hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, việc các khu công nghiệp mọc lên khắp nơi với quy mô ngày càng lớn, vận tải hàng hóa và nhu cầu đi lại của xã hội ngày một nâng cao. Vì vậy, hệ thống giao thông đường bộ những năm gần đây được nhà nước và người dân đặc biệt quan tâm và đầu tư rất lớn. Kết cấu mặt đường Bê tông nhựa (BTN) được sử dụng rộng rãi, chiếm trên 80% diện tích mặt đường ở Nam bộ và là sự lựa chọn hàng đầu khi thiết kế các công trình đường cao tốc và đường cấp cao khác.
Tuy nhiên, việc tăng đột biến của lưu lượng cũng như tải trọng trục xe khiến cho thời gian gần đây thường xảy ra các hiện tượng: xô dồn, nứt trượt lớp mặt BTN, lún vệt hằn bánh xe (VHBX), rạn nứt bong bật, lún nứt cao su… gây hư hỏng nghiêm trọng mặt đường cũng như an toàn giao thông. Chính vì thế, công tác quản lý chất lượng BTN đang là vấn đề cấp bách mà Bộ GTVT rất quan tâm. Do đó, Bộ GTVT đã đề xuất các tiêu chuẩn quản lý như: “Tiêu chuẩn Việt Nam 8819:2011 – Mặt đường BTN nóng - Yêu cầu thi công và nghiệm thu” (TCVN 8819) và gần đây nhất là “Quyết định 858/QĐ-BGTVT về việc ban hành hướng dẫn áp dụng hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành nhằm tăng cường quản lý chất lượng thiết kế và thi công mặt đường BTN nóng đối với các tuyến đường ô tô có quy mô giao thông lớn” (QĐ 858) nhằm nâng cao công tác quản lý chất lượng BTN cũng như tìm ra phương pháp tối ưu nhằm hạn chế các hư hỏng do lún VHBX, lượn sóng…gây ra trên đường. Độ ổn định Marshall và độ dẻo Marshall là các chỉ tiêu kỹ thuật quan trọng để đánh giá chất lượng của BTN.
Hiện nay, vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá một cách đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu kỹ thuật này. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung làm rõ những ảnh hưởng của thành phần cấp phối, phương pháp thí nghiệm, nguồn gốc vật liệu, lún VHBX… đến độ bền, độ dẻo Marshall, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng BTN nói riêng và khả năng làm việc của mặt đường BTN nói chung. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: - Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng khi thay đổi cốt liệu, thành phần cấp phối hạt đến các chỉ tiêu kỹ thuật của BTN (độ bền, độ dẻo, khả năng chống lún…). Từ đó đề xuất được biện pháp nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng BTN.
- Nghiên cứu các mối quan hệ giữa lún VHBX với các chỉ tiêu kỹ thuật của BTN, các ảnh hưởng do phương pháp thí nghiệm đến các chỉ tiêu kỹ thuật nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng BTN. Đối tƣợng nghiên cứu: - Nghiên cứu độ ổn định, độ dẻo, lún VHBX… của BTN nóng với nguồn gốc cốt liệu và thành phần cấp phối thay đổi theo TCVN 8819 và QĐ 858. - Nghiên cứu mối quan hệ giữa lún VHBX với độ ổn định và độ dẻo Marshall của hỗn hợp BTN. - Nghiên cứu các ảnh hưởng do phương pháp thí nghiệm đến các chỉ tiêu kỹ thuật của BTN.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tính chất của BTN khi thay đổi chủng loại cốt liệu và thành phần cấp phối của hỗn hợp BTN. Phƣơng pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp kết hợp giữa thống kê và thực nghiệm. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn: Ý nghĩa khoa học của đề tài: - Trên cơ sở thay đổi, sử dụng các loại cốt liệu khác nhau, thay đổi thành phần cấp phối trong việc chế tạo mẫu BTN để xác định các chỉ tiêu kỹ thuật và mối quan hệ giữa lún VHBX với các chỉ tiêu kỹ thuật, từ đó đề xuất được cấp phối sử dụng hợp lý. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: - Đề xuất được các giải pháp để nâng cao chất lượng của BTN.
3 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I: TỔNG QUAN BÊ TÔNG NHỰA TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG NHỰA (BTN): BTN là vật liệu khoáng - bitum xây dựng đường, nhận được khi làm đặc hỗn hợp BTN. Hỗn hợp BTN bao gồm: đá dăm, cát, bột khoáng, bi tum và phụ gia được lựa chọn thành phần hợp lý, phối trộn và gia công thành một hỗn hợp đồng nhất. Hỗn hợp được thiết kế hợp lý và gia nhiệt từ 120–1600C. Thành phần của BTN theo khối lượng thông thường như sau: đá dăm: 20–65%; cát: 30–66%; bột khoáng: 4–14%; bitum: 5–7%; và phụ gia tuỳ theo kết quả thí nghiệm BTN là tốt nhất so với các hỗn hợp vật liệu khoáng - bitum khác ở chỗ nó có độ đặc, cường độ, độ ổn định và độ bền cao do sự tham gia của bột khoáng trong thành phần [16].
Các tính chất của BTN phụ thuộc vào nhiệt độ thi công và nhiệt độ khai thác, tỷ lệ và tính chất của các vật liệu thành phần, phụ thuộc vào sự phân bố chất kết dính trong hỗn hợp và mức độ dính kết giữa cốt liệu và bitum. Mỗi thành phần trong hỗn hợp BTN đóng một vai trò nhất định và có liên quan chặt chẽ đến nhau trong việc tạo nên một khối liên kết có đủ các tính chất cần thiết của vật liệu làm lớp mặt đường [16, 7]. Sự lựa chọn các thành phần để cấu thành BTN không phải là ngẫu nhiên và tùy tiện. Mỗi thành phần của hỗn hợp đóng một vai trò nhất định và có liên quan chặt chẽ với nhau trong việc tạo nên một khối liên kết có đủ cường độ, đủ các tính chất cần thiết khác để làm mặt đường [16].
Theo các tài liệu quốc tế thì BTN có thể khai thác ở nhiệt độ từ –500C đến +600C. Các giải pháp để tăng cường độ ổn định nhiệt của BTN cần đặc biệt lưu ý khi sử dụng BTN trong điều kiện khí hậu nhiệt đới. Trong quá trình khai thác BTN chịu ảnh hưởng của các yếu tố nhiệt độ và thời tiết nên nó bị già đi, nứt nẻ, bị mài mòn và biến dạng làm giảm tuổi thọ khai thác của BTN. Tuổi thọ trung bình của các lớp phủ mặt đường bằng BTN khoảng 10 đến 15 năm.
Trong điều kiện thiết kế, thi công, bảo dưỡng và khai thác hợp lý thì tuổi thọ tối đa có thể đạt đến 20 năm [16]. BTN được sử dụng làm lớp phủ mặt đường có lượng giao thông cao như đường cao tốc, đường thành phố và sân bay. BTN còn có thể sử dụng làm vỉa hè, khu vui chơi giải trí, công trình thể thao và các công trình thuỷ lợi. BTN chủ yếu có màu đen nhưng trong điều kiện yêu cầu cũng có thể chế tạo BTN có màu khác [16].
Cấu trúc của BTN Tính chất vật lí, cơ học của BTN phụ thuộc vào chất lượng, tỉ lệ thành phần các vật liệu chế tạo và cấu trúc bê tông. Cấu trúc phụ thuộc vào tỉ lệ của các vật liệu và độ chặt của hỗn hợp. Về mặt cấu trúc, BTN là một vật liệu xây dựng có cấu trúc thuộc loại cuội kết nhân tạo, trong đó các cốt liệu khoáng vật được kết dính với nhau nhờ chất liên kết asphalt. Cấu trúc của vật liệu khoáng trong BTN được chia làm 3 loại: có khung, bán khung và không có khung.
Cấu trúc có khung: là cấu trúc trong đó hệ số lấp đầy lỗ rỗng giữa các hạt của bộ khung cát, đá dăm bằng chất liên kết bitum là nhỏ hơn hoặc bằng 1. Như vậy các chất liên kết nhựa không dễ chuyển động, những hạt đá dăm và cát tiếp xúc với nhau một cách trực tiếp hoặc thông qua lớp liên kết bitum tạo cấu trúc. Bộ khung có thể chỉ là đá dăm. Trong trường hợp này đá dăm không chuyển động được cùng với hỗn hợp vữa (hỗn hợp gồm cát, bột khoáng và bitum).
Sự có mặt các khung cứng không gian làm tăng độ ổn định của lớp phủ mặt đường. Cấu trúc khung quen thuộc thường chứa lượng bột khoáng từ 4-10% và lượng bitum từ 5-7%. Cấu trúc bán khung của vật liệu khoáng là cấu trúc có các phần cục bộ của hạt đá dăm tập trung lớn hơn thể tích của vữa asphalt. Trong BTN không có khung, hạt đá dăm và cát bị dịch chuyển do lượng thừa của chất kết dính bitum (hệ số lấp đầy lỗ rỗng lớn hơn 1).
Cường độ và độ kết dính của cấu trúc này giảm khi bị tác dụng nhiệt làm cho lớp phủ mặt đường bị biến dạng dẻo. Sự tạo nên cấu trúc tối ưu của BTN phụ thuộc vào thành phần, chất lượng vật liệu, công nghệ sản xuất và việc lựa chọn tối ưu thành phần hỗn hợp BTN. Phân loại BT nhựa 1. Theo đặc tính của cấp phối hỗn hợp cốt liệu: - BTN có cấp phối chặt (dense graded mix); - BTN có cấp phối gián đoạn (gap graded mix); - BTN có cấp phối hở (open graded mix).
Theo độ rỗng dƣ: BTN được phân ra 2 loại: 5 - BTN chặt (viết tắt là BTNC): có độ rỗng dư từ 3% đến 6% , dùng làm lớp mặt trên và lớp mặt dưới. Trong thành phần hỗn hợp bắt buộc phải có bột khoáng; - BTN rỗng (viết tắt là BTNR): có độ rỗng dư từ 7% đến 12% và chỉ dùng làm lớp móng. Theo vị trí và công năng trong kết cấu mặt đƣờng: - BTN có độ nhám cao, tăng khả năng kháng trượt: sử dụng cho đường ô tô cấp cao, đường cao tốc, các đoạn đường nguy hiểm. Lớp BTN này được phủ trên mặt BTN, ngay sau khi thi công các lớp BTN phía dưới hoặc được phủ sau này, khi nâng cấp mặt đường.
- BTN dùng làm lớp mặt (surface course mixture), bao gồm: BTN dùng làm lớp mặt trên (wearing course mixture): thường sử dụng BTN chặt. BTN dùng làm lớp mặt dưới (binder course mixture): thường sử dụng BTN chặt. - BTN dùng làm lớp móng (base course mixture): loại BTN chặt và BTN rỗng đều có thể sử dụng làm lớp móng. BTN rỗng có giá thành thấp hơn do không cần sử dụng bột khoáng và hàm lượng nhựa thấp hơn so với BTN chặt.
- BTN cát (sand-asphalt mixture): sử dụng làm lớp mặt tại khu vực có tải trọng xe không lớn, vỉa hè, làn dành cho xe đạp, xe thô sơ. Có thể sử dụng để làm 1 lớp bù vênh mỏng trước khi rải lớp BTN lên trên. Cốt liệu sử dụng cho BTN cát là cát nghiền, cát tự nhiên hoặc hỗn hợp của hai loại cát này.