MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong Thế kỷ 21. Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới. Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và hệ thống kinh tế - xã hội trong tương lai.
Tại Việt Nam, trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,7oC, mực nước biển đã dâng khoảng 20 cm. Hiện tượng El-Nino, La-Nina ngày càng tác tác động mạnh mẽ đến Việt Nam. Biến đổi khí hậu thực sự đã làm cho các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt. Theo tính toán, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 3oC và mực nước biển có thể dâng 1 m vào năm 2100.
Số các đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam đã giảm đi rõ rệt trong hai thập kỷ qua; bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn với quỹ đạo bão có dấu hiệu dịch chuyển dần về phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn. Nhằm đưa ra giải pháp bảo vệ môi trường, góp phần giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, ngày 05 tháng 09 năm 5/2013 Thủ Tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1216/QĐ-TTg “Phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. Tại điều 1 của Quyết định có nội dung: Xây dựng năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; Khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Đưa ra các giải pháp hướng tới mục tiêu phục hồi, tái sinh các hệ sinh thái tự nhiên đã bị suy thoái.
Đặc biệt, kết luận của Hội nghị Trung ương 7, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã nhất trí thông qua Nghị quyết về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và môi trường” và khẳng định, đây là n 2 vấn đề chiến lược có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển bền vững của nước ta. Trong bối cảnh khí hậu toàn cầu diễn biến phức tạp, do đặc điểm địa hình, vị trí địa lý, trình độ phát triển, nước ta dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu; tài nguyên, môi trường chịu áp lực lớn từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới nằm ở phía Tây Bắc của tổ quốc, bao gồm 9 đơn vị hành chính là thành phố Điện Biên Phủ, thị xã Mường Lay, và các huyện Mường Nhé, Mường Chà, Tủa Chùa, Tuần Giáo, Điện Biên, Điện Biên Đông và Mường Ảng. Trong những năm gần đây, dưới sự tác động của biến đổi khí hậu thì các loại hình thiên tai đều đã gia tăng cả về mức độ lẫn tần số; các tai biến thiên nhiên liên quan đến trượt lở đất, lũ lụt, lũ ống, lũ quét…đang có xu hướng ngày một gia tăng.
Trên địa bàn huyện Điện Biên trong những năm qua, những biểu hiện của BĐKH đã biểu hiện rõ rệt, đó là lượng mưa trung bình năm có xu hướng suy giảm nhưng số ngày mưa lớn trung bình tháng đã có sự dịch chuyển rõ rệt từ tháng 7 sang tháng 8 trong giai đoạn 2006 – 2012; tần xuất và cường độ các trận lũ quét gia tăng; các hiện tượng cực đoan của thời tiết diễn biến bất thường, đặc biệt là số lượng và cường độ các đợt rét. Từ tháng 10/2012 đến tháng 5/2013, có 4 đợt rét đậm và rét hại ảnh hưởng tới huyện Điện Biên trong đó có 2 đợt rét hại xảy ra trên diện rộng. Cùng với những tác động do thiên tai, ngoài đặc điểm khó khăn về điều kiện phát triển kinh tế nêu trên huyện Điện Biên còn có số lượng dân tộc thiểu số sinh sống lớn, có 08 dân tộc sinh sống. Đây là những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất đối với những thách thức do BĐKH gây ra.
Ngoài ra, huyện Điện Biên là một trong những huyện có tỷ lệ số xã đặc biệt khó khăn lớn. Tính đến năm 5/2013, huyện Điện Biên có 16.544 hộ nghèo chiếm 37,01%; số hộ cận nghèo còn 2.617 hộ, tỷ lệ hộ cận nghèo 5,35% (theo chuẩn nghèo, cận nghèo giai đoạn 2011 - 2015). Là một huyện của một tỉnh mới được tách ra từ tỉnh Lai Châu cũ. Lại là một huyện miền núi, những thiệt hại do thiên tai gây ra là không nhỏ, ảnh hưởng rất lớn đến các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Để ứng phó với những thách thức nói trên, trong những năm qua, huyện đã tiến hành một số các giải pháp như di dời dân cư ra khỏi vùng nguy cơ xảy ra lũ quét cao, quy hoạch các khu vực kinh tế phù hợp n 3 với điều kiện từng địa phương. Nhưng những giải pháp này là chưa đủ và đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ và đặc biệt là phải tính tới các yếu tố BĐKH. Vấn đề biến đổi khí hậu vừa có tính trước mắt, vừa có tính lâu dài, phức tạp và liên quan đến tất cả các ngành, trên phạm vi khu vực và toàn cầu. Vì thế, để thực hiện được mục tiêu ứng phó và giảm nhẹ tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với Tỉnh, cũng như của huyện việc xây dựng các giải pháp, kế hoạch và công tác chỉ đạo thực hiện cần được nghiên cứu, trao đổi ở tất cả các cấp, các khu vực, các lĩnh vực (môi trường nước, đất, môi trường, các hệ sinh thái…) và trong tất cả các ngành, quan trọng nhất là năng lượng, giao thông, công nghiệp, nông lâm nghiệp, thuỷ sản, du lịch, tài nguyên và môi trường.
Thực tế cho thấy BĐKH đã và đang tác động tới nhiều vấn đề trong cuộc sống. Xuất phát từ những lý do đó, việc xây dựng và đề xuất đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới môi trường nước và đa dạng sinh học của huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên” là cần thiết để làm cơ sở cho dự án “Xây dựng và triển khai kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của tỉnh Điện Biên”. Đồng thời cung cấp những dẫn liệu khoa học cho việc nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu của người dân trên địa bàn huyện nhằm bảo vệ tài nguyên và môi trường trong sự phát triển bền vững. Mục tiêu nghiên cứu + Điều tra đánh giá được hiện trạng môi trường nước và đa dạng sinh học; Xu thế biến đổi khí hậu của huyện Điện Biên.
+ Đánh giá mức độ tác động của biến đổi khí hậu tới môi trường nước và đa dạng sinh học của huyện Điện Biên. + Xây dựng các kế hoạch hành động nhằm giảm thiểu và thích ứng với các ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH tới môi trường nước và đa dạng sinh học trên địa bàn huyện. n 4 + Cung cấp những dẫn liệu khoa học cho việc nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu của người dân trên địa bàn huyện nhằm bảo vệ tài nguyên và môi trường trong sự phát triển bền vững tương lai.3 Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học: thời gian làm đề tài tốt nghiệp là dịp sinh viên tự khẳng định mình, biến những kiến thức đã học thành kiến thức của mình. Cũng qua quá trình làm đề tài em học được cách làm việc nghiên cứu độc lập, tính kỉ luật trong công việc, tiếp cận dần với công việc và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác nghiên cứu sau này - Ý nghĩa thực tiễn: + Đánh giá ảnh hưởng BĐKH tới môi trường nước.
+ Đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đa dạng sinh học của huyện Điện Biên. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN CHUNG CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm chung về biến đổi khí hậu + Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một điểm nhất định, được xác định bằng tổ hợp các yếu tố như: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa. Các hiện tượng nắng, mưa, mây, gió, nóng, lạnh… thường thay đổi nhanh chóng qua từng ngày, từng tháng, từng năm.
Thời tiết có thể được dự báo hàng ngày, hàng giờ hay dài hơn đến một tuần [10]. + Khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết tại một khu vực nào đó. Thí dụ, như trong phạm vi một tỉnh, một nước, một châu lục hoặc trên toàn cầu trên cơ sở của một chuỗi dữ liệu dài (khoảng 30 năm trở lên). Khi ta nói “khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiểu”.
Điều đó có nghĩa là nước ta thường xuyên có nhiệt độ trung bình hàng năm cao và lượng mưa trung bình hàng năm lớn, đồng thời có sự thay đổi theo mùa. So với thời tiết, khí hậu thường ổn định hơn [10]. + Biến đổi khí hậu là gì? BĐKH là “sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một thời gian dài, thường là từ vài thập kỷ hoặc dài hơn”. Ví dụ, sự ấm lên hay lạnh đi.
Sự biến đổi về trạng thái khí hậu đó xảy ra do quá trình tự nhiên hoặc do con người gây ra đối với các thành phần khí quyển [10]. + Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất. Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển. Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người.
Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác. Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ n 6 sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển. Xu hướng chung của biến đổi khí hậu toàn cầu, Châu Á và khu vực Đông Nam Á 2. Xu hướng chung của Biến đổi khí hậu toàn cầu Nông Tài nghiệp nguyên Y tế và Lâm sức khỏe nghiệp BĐKH Năng Môi lượng trường Du lịch Hình 1.
Các tác động của biến đổi khí hậu a.