CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VÙNG NGHIÊN CỨU VÀ BÀI TOÁN NGHIÊN CỨU 1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 1. Vị trí địa lý Vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thanh Hoá là vùng nghiên cứu của luận văn gồm 6 huyện thị như sau: Huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Sầm Sơn, Quảng Xương, Tĩnh Gia (theo thứ tự từ Bắc xuống Nam) với chiều dài bờ biển 102km kéo dài từ vĩ độ 19040’N đến 20010’N. Sáu huyện, thị ven biển thuộc khu vực nghiên P P P P P P P P cứu có tổng diện tích tự nhiên là 1219,04km2, chiếm 11,06% tổng diện tích tự nhiên P P toàn tỉnh - Phía Bắc khu vực giáp với huyện Yên Mô và Kim Sơn tỉnh Ninh Bình.
- Phía Tây giáp với các huyện Hà Trung, Yên Định, Thiệu Hoá, thành phố Thanh Hoá, Đông Sơn, Nông Cống, Như Thanh tỉnh Thanh Hoá - Phía Nam giáp với huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An - Phía Đông một phần thuộc huyện Nga Sơn giáp với huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, phần còn lại của vùng giáp với biển Đông 1. Đặc điểm địa hình Vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thanh Hoá có địa hình tương đối bằng phẳng với độ cao trung bình 3-6m, xen vào các vùng cao khô cạn là những vùng trũng khó thoát nước. Từ Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, TX Sầm Sơn, Quảng Xương đến Tĩnh Gia, chạy dọc theo bờ biển gồm vùng sình lầy ở Nga Sơn và các cửa sông Hoạt, sông Mã, sông Yên và sông Bạng. Đường bờ biển của vùng dài 102km tương đối bằng phẳng, có bãi tắm nổi tiếng Sầm Sơn, các khu nghỉ mát Hải Tiến (Hoằng Học viên: Nguyễn Thị Mùi – Lớp: CH16MT Luận văn Thạc sĩ -16- Hoá) và Hải Hoà (Tĩnh Gia) ….
Bên cạnh đó còn là vùng đất đai rộng lớn thuận lợi cho việc lấn biển, nuôi trồng thuỷ sản, phát triển nông nghiệp, phân bố các khu dịch vụ, khu công nghiệp, phát triển kinh tế biển (ở Nga Sơn, Nam Sầm Sơn, Nghi Sơn, Hoằng Hoá,…). Dựa theo đặc điểm địa hình có thể phân vùng bờ biển thuộc tỉnh Thanh Hoá thành hai vùng: 1) Vùng bờ biển phía Bắc : Từ Ninh Bình đến lạch Hới có nhiều cồn cát ven bờ như: cồn Tròn, cồn Nổi, cồn Ngang, cồn Bò. Đáy biển tương đối bằng phẳng song cũng có một số rạn ngầm. Trước kia vùng biển được bồi thêm do ảnh hưởng của phù sa sông Hồng và các sông thuộc địa phận tỉnh Thanh Hoá.
Nhưng từ khi có nông trường Bình Minh của tỉnh Ninh Bình thì vùng biển Thanh Hoá không còn được phù sa sông Hồng bồi đắp. Hiện tại biển Thanh Hoá đang tiến vào đất liền, toàn bộ hệ thống cửa sông đang kéo dài về phía cửa biển Thuỷ Lệ. 2) Vùng bờ b iển phía Nam: từ lạch Hới đến giáp Nghệ An, ven bờ có nhiều vụng, vịnh, ngoài biển có nhiều đảo là điều kiện thuận lơị cho các loài hải sản sinh trưởng, phát triển và là nơi trú gió bão cho tàu thuyền. Bản đồ vùng ven biển Thanh Hóa xem trong hình 1.1 Học viên: Nguyễn Thị Mùi – Lớp: CH16MT Luận văn Thạc sĩ -17- Nguồn: Trung tâm quan trắc và mô hình hoá môi trường Hình 1.1 Bản đồ địa hình vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thanh Hoá Học viên: Nguyễn Thị Mùi – Lớp: CH16MT Luận văn Thạc sĩ -18- 1.
Đặc điểm mạng lưới sông ngòi Vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thanh Hóa có mạng lưới sông ngòi bao gồm hạ lưu các con sông như sông Hoạt , sông Mã , sông Yên và sông Bạng , trong đó sông Mã là sông lớn có nguồn từ Trung Quốc, các sông khác là sông nhỏ vùng đồng bằng ven biển. Các con sông này đổ ra 5 cửa lạch thuộc vùng ve n biển Thanh Hóa là : lạch Sung, lạch Trường, lạch Hới, lạch Ghép và lạch Bạng. Sông Hoạt ở phía Bắc huyện Hà Trung và Nga Sơn đổ ra cửa Đáy. Sông có chiều dài 55km, lưu vực rộng 236km2.
P P Sông Mã khởi nguồn tại núi Phu Lan (Tuần Giáo – Lai Châu), sông chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Đến Chiền Khương sông chảy qua đất Lào và trở lại đất Việt Nam tại Mường Lát, rồi chảy qua Hồi Xuân, Cẩm Thuỷ và đổ ra biển tại cửa lạch Sung, lạch Hới và lạch Trường, sông có chiều dài 512km, lưu vực rộng 28400km2, đây là con sông lớn nhất trong vùng. P P Sông Yên: Bắt nguồn từ huyện Như Xuân chảy qua huyện Nông Cống, Quảng Xương và đổ ra biển tại cửa Lạch Ghép. Sông Yên có chiều dài 89km, lưu vực rộng 1850km2, tổng lượng dòng chảy hàng năm khoảng 1,13 tỷ m3.
P P P P Sông Lạch Bạng: bắt nguồn từ phía Bắc huyện Như Xuân chảy qua huyện Tĩnh Gia đổ ra biển tại cửa Lạch Bạng. Chiều dài sông 34,5km, lưu vực rộng 236km2.P P Các cửa lạch phân bố từ Bắc xuống Nam trong vùng nghiên cứu như sau: + Lạch Sung: nằm giữa huyện Nga Sơn và Hậu Lộc, chiều rộng cửa lạch 50m, độ sâu giữa luồng lạch nhỏ nhất vào mùa khô là 1 m, luồng lạch thường xuyên thay đổi do lượng phù sa bồi đắp, nên rất khó khăn cho tàu thuyền công suất lớn ra vào cửa lạch. Nơi đây đã hình thành bến cá lạch Sung, trung bình có khoảng 15 tàu thuyền neo đậu hàng ngày, số tàu thuyền này có công suất nhỏ từ 6 – 33 CV. + Lạch Trường: nằm giữa hai huyện Hậu Lộc và Hoằng Hóa, có độ rộng cửa lạch 50m, độ sâu giữa luồng 0,5m, vì vậy tàu thuyền lớn rất ít ra vào, chỉ có các tàu công suất từ 6-75 CV neo đậu tại đây, trung bình 30 chiếc/ngày.
Học viên: Nguyễn Thị Mùi – Lớp: CH16MT Luận văn Thạc sĩ -19- + Lạch Hới: là cửa lạch lớn nhất trong tỉnh, nằm giữa huyện Hoằng Hóa, Quảng Xương và TX Sầm Sơn, chiều rộng cửa lạch 60m với độ sâu nhỏ nhất vào mùa khô là 1,5 m, đảm bảo cho các tàu công suất trên 90 CV ra vào. Tại đây đã xây dựng cảng cá và bến cá Lạch Hới, trung bình mỗi ngày có khoảng trên 40 tàu neo đậu và trên 50 tàu công suất nhỏ neo đậu tại bến Hới. Cửa lạch này trở thành một nơi tập trung về hậu cần, dịch vụ nghề cá tỉnh Thanh Hóa. Ngoài ra gần cửa lạch có thành phố Thanh Hóa và khu du lịch bãi biển Sầm Sơn nên đây cũng là vùng trọng điểm chịu áp lực ô nhiễm của công nghiệp và sinh hoạt.
+ Lạch Ghép: nằm giữa hai huyện Quảng Xương và Tĩnh Gia, với chiều rộng cửa lạch 35 m và là cửa lạch cạn nhất trong tỉnh, nơi đây chỉ có các loại tàu có công suất dưới 75 CV ra vào, trong trường hợp bão gió tàu thuyền ra vào rất khó khăn. Tuy nhiên đây là vùng cửa lạch phát triển nuôi trồng thủy sản tương đối nhiều. + Lạch Bạng: nằm trên địa phận huyện Tĩnh Gia, có chiều rộng cửa lạch 50m và độ sâu nhỏ nhất vào mùa khô là 1m, hàng ngày tại đây có hàng trăm tàu thuyền của các tỉnh bạn ra vào neo đậu tại đây, tàu thuyền có công suất trên 90 CV có thể ra vào các cửa lạch. Các cửa lạch trong vùng này đều có thể xây dựng cảng cá, bến cá.2 là bản đồ các sông và cửa lạch trong vùng nghiên cứu thuộc ven biển Thanh Hóa Học viên: Nguyễn Thị Mùi – Lớp: CH16MT Luận văn Thạc sĩ -20- Hình 1.2 Bản đồ mạng lưới sông ngòi, cửa lạch vùng đồng bằng ven biển tỉnh Thanh Hóa.
Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng a. Đặc điểm địa chất Đặc điển địa chất của vùng nghiên cứu nhìn chung có cấu tạo như sau: - Giới PTOTEOZOI hệ thống camri hệ tầng Nậm cò (PR 3t1m) thuộc khu vực Hoằng Hoá và thị xã Sầm Sơn gồm đá biến chất phiến đá phiến lục, trong đó chủ yếu là: pilit màu xám tro chuyển tiếp từ sang các phiến đá hạt mi ca có grami, những lớp kẹp quaczit và đá hoa. Học viên: Nguyễn Thị Mùi – Lớp: CH16MT Luận văn Thạc sĩ -21- - Giới PALEÔZÔI: điệp bến khế, đá cát kế thạch anh ở phần dưới chuyển tiếp lên trên là phiến sét xen các lớp kẹp đá phun trào bazơ, đá hoa và bộ kết đơn khoáng. - Giới MEZOZÔI: hệ Krete không phân chia phân bổ ở Quảng Xương gồm cuội kết, sét kết hạt vừa, xen các lớp kẹp sét, bột kết.
- Gới KANINOZÔI: thuộc thống Holoxen thượng tầng trên phân bố dọc ven bờ biển. Thành phần chủ yếu là cát hạt nhỏ, chiều dày 0,5-3m. - Macma khối Granit haimica phức hệ mường lát: thành phần gồm Granit, mêca, Granitbiotit chủ yếu, các mạch có áp lit và pecmatit chứa penpat, mica, tuôcmalin. Đặc điểm thổ nhưỡng Tài nguyên đất vùng đồng bằng ven biển Thanh Hoá có những nhóm đất tiềm năng chính để phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản như sau: - Nhóm đất phù sa: đất phù sa úng nước chiếm khoảng 0,33% diện tích tự nhiên toàn vùng phân bổ chủ yếu ở chỗ trũng, tiêu thoát nước kém.
- Nhóm đất mặn phèn: vùng ven biển Thanh Hoá có đất mặn nhiều, đất mặn trung bình và mặn ít. Đất mặn nhiều có diện tích ít chiếm khoảng 0,11% diện tích tự nhiên toàn vùng, phân bố tập trung ở vùng địa hình trũng thấp, ven cửa lạch, ảnh hưởng mặn do thuỷ triều. Đất mặn trung bình và đất mặn ít chiếm khoảng 0,71% diện tích tự nhiên toàn vùng. Loại đất này là đất có thành phần cơ giới đất cát pha, thịt nhẹ hơi chua.
Đây là vùng đất tương đối ổn định, được cải tạo, sử dụng nhiều năm không bị ảnh hưởng của thuỷ triều. - Nhóm đất cát: loại đất này phân bố dọc ven biển, hình thành dải đất cát rộng bằng phẳng bởi sự bồi lắng của sông và biển. Đặc điểm thảm phủ thực vật Khu vực nghiên cứu chủ yếu là vùng đồng bằng ven biển, diện tích rừng trên cạn ít. Trải qua nhiều năm rừng trong khu vực đã bị khai thác, một phần đất Học viên: Nguyễn Thị Mùi – Lớp: CH16MT Luận văn Thạc sĩ -22- rừng bị khai thác trở thành đất trống đồi trọc.
Vù̀ng ven bờ biể n có một số rừng ngập mặn, thảm thực vật trong vùng cụ thể như sau: - Vùng đồng bằng thảm phủ thực vật chủ yếu là các loại hoa màu, lúa nước, cây công nghiệp ngắn ngày. - Rừng ngập mặn của vùng hiện không còn nhiều do một thời gian dài không được quản lý dẫn đến việc khai thác bừa bãi và chặt phá để nuôi trồng thuỷ sản, làm bến bãi…. Đồng thời, ô nhiễm do nước xả thải từ sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp và hoạt động nuôi trồng thuỷ sản khiến cho diện tích rừng còn lại cũng bị suy thoái. Theo thống kê của Sở Lâm nghiệp Thanh Hoá diện tích rừng ngập mặn trong vùng như sau: Bảng 1.