Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn, các làng nghề truyền thống đóng vai trò động lực thúc đẩy kinh tế nhưng đồng thời cũng tạo ra những thách thức nghiêm trọng về an ninh phi truyền thống. Nghiên cứu trường hợp tại xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội cho thấy một bức tranh toàn diện về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế làng nghề và bài toán an ninh môi trường. Với tổng diện tích tự nhiên 431,93 ha và dân số 14.402 người phân bổ trong 3.497 hộ gia đình, Dương Liễu là một trong những trung tâm chế biến nông sản lớn nhất miền Bắc. Toàn xã có tới 3.120 hộ tham gia sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ liên quan, chiếm gần 90% tổng số hộ dân trên địa bàn.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ áp lực quá tải môi trường khi làng nghề mỗi ngày tiêu thụ hàng nghìn tấn nông sản thô, cung ứng ra thị trường khoảng 150-200 tấn tinh bột dong và khoảng 60.000 tấn tinh bột sắn mỗi năm. Quá trình chế biến tạo ra lượng chất thải khổng lồ với 9.589 m3 nước thải sản xuất cùng 1.610 m3 nước thải sinh hoạt mỗi ngày đêm, phần lớn chưa qua xử lý đạt chuẩn. Mục tiêu nghiên cứu nhằm phân tích có hệ thống thực trạng ô nhiễm môi trường, nhận diện các bất cập trong quản lý tài nguyên và đánh giá tác động của chúng đối với an ninh trật tự xã hội, phát triển kinh tế và sức khỏe cộng đồng.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại 14 cụm dân cư thuộc xã Dương Liễu trong tiến trình địa phương triển khai Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2012-2018. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ thực tiễn giúp địa phương hoàn thiện tiêu chí số 17 về môi trường – tiêu chí duy nhất chưa đạt trọn vẹn trong số 19 tiêu chí nông thôn mới, qua đó hướng tới mục tiêu phát triển bền vững cho khu vực nông thôn ngoại thành Hà Nội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề an ninh môi trường thông qua hai hệ thống lý thuyết xã hội học nền tảng là Lý thuyết Xung đột môi trường và Lý thuyết Xã hội rủi ro.

Lý thuyết Xung đột môi trường của Libiszewski, Manson và Spillmann được vận dụng để lý giải cách thức suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường chuyển hóa thành các xung đột xã hội. Theo Libiszewski, khi khả năng tự làm sạch của môi trường bị quá tải do xả thải vượt ngưỡng, không gian sống bị thu hẹp sẽ làm nảy sinh tương tác xung khắc giữa các nhóm xã hội. Manson và Spillmann bổ sung rằng xung đột nảy sinh từ sự bất đối xứng về lợi ích: một nhóm chủ thể hưởng lợi từ việc khai thác hệ thống môi trường trong khi chuyển giao ngoại ứng tiêu cực và thiệt hại sang cho các nhóm dân cư khác.

Lý thuyết Xã hội rủi ro của Ulrich Beck và Anthony Giddens cung cấp khung nhìn về các hiểm họa do con người tạo ra thông qua tiến trình công nghệ hóa và sản xuất quy mô lớn. Beck chỉ ra rằng các rủi ro môi trường hiện đại mang tính chất phi địa phương hóa, không bị giới hạn trong không gian hành chính ban đầu và không thể bồi hoàn hoàn toàn bằng vật chất. Các khái niệm then chốt được vận hành trong nghiên cứu gồm: an ninh phi truyền thống, an ninh môi trường làng nghề theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, xung đột môi trường liên vùng và rủi ro sinh thái học.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp đa dạng các nguồn dữ liệu định lượng và định tính nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học cao:

Nguồn dữ liệu định lượng được khai thác từ bộ dữ liệu của đề tài cấp Đại học Quốc gia Hà Nội do Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Anh làm chủ nhiệm với cỡ mẫu khảo sát đại diện gồm 320 hộ gia đình tại 14 xóm của xã Dương Liễu. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng dựa trên mật độ sản xuất và ngành nghề đặc trưng của từng khu vực như xóm Đoàn Kết, Gia, Me Táo, Hợp Nhất. Dữ liệu khảo sát được xử lý và phân tích thống kê thông qua phần mềm SPSS 20.0 và môi trường ngôn ngữ R, giúp kiểm định mối tương quan giữa mức độ ô nhiễm và chỉ số căng thẳng xã hội.

Nguồn dữ liệu định tính được thu thập thông qua 12 cuộc phỏng vấn sâu thực địa đối với cán bộ quản lý cấp xã, đại diện hội đoàn thể, chủ cơ sở sản xuất quy mô lớn và người dân chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tháng 3/2017 đến tháng 3/2018. Bên cạnh đó, phương pháp quan sát tham dự được tiến hành liên tục từ tháng 3/2017 đến tháng 6/2018 nhằm ghi nhận hiện trạng dòng chảy xả thải, các điểm tập kết bã sắn và quy trình vận hành sản xuất thực tế tại địa bàn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích thực nghiệm chỉ ra bốn phát hiện cốt lõi về hiện trạng môi trường và an ninh xã hội tại làng nghề Dương Liễu:

Thứ nhất, mức độ ô nhiễm chất thải lỏng ở mức báo động nghiêm trọng. Khảo sát định lượng cho thấy 74,3% số cơ sở sản xuất có phát sinh chất thải lỏng trong quy trình chế biến. Đáng chú ý, có tới 70,4% tổng số cơ sở thừa nhận xả trực tiếp nước thải chưa qua xử lý vào hệ thống rãnh hở của làng, trong khi chỉ có 3,9% cơ sở có áp dụng biện pháp xử lý sơ bộ trước khi thải ra môi trường. Tổng lưu lượng nước thải phát sinh lên tới 11.199 m3/ngày đêm, vượt xa khả năng tự phân hủy của hệ thống thủy văn địa phương.

Thứ hai, ô nhiễm chất thải rắn và khí thải gia tăng theo mùa vụ. Khối lượng chất thải rắn phát sinh tại xã ước tính hơn 5.000 tấn/năm, tương đương khoảng 14 tấn/ngày, chủ yếu là bã dong riềng và vỏ sắn. Vào vụ sản xuất cao điểm từ tháng 9 đến tháng 12 âm lịch, việc đốt than phục vụ nấu mạch nha và tráng miến làm nồng độ các khí độc hại như CO, CO2, SO2 cùng bụi mịn tăng cao đột biến.

Thứ ba, sự hình thành các điểm nóng xung đột môi trường liên vùng. Nước thải từ Dương Liễu theo hệ thống kênh dẫn T2 và T26 chảy qua các xã hạ lưu như Sơn Đồng, Vân Canh, Lại Yên, Yên Sở. Sự ô nhiễm kéo dài khiến người dân vùng hạ lưu bức xúc, dẫn đến hành động chặn dòng chảy kênh thoát nước, gây ngập úng cục bộ và làm gia tăng căng thẳng hành chính giữa các địa phương lân cận.

Thứ tư, nguy cơ sụt lún địa chất do khai thác nước ngầm tầng sâu trái phép. Do nhu cầu nước rửa nông sản rất lớn, nhiều hộ gia đình đã tự ý khoan giếng tầng sâu trên 60 mét bằng ống phi 60 mà không đăng ký cấp phép, làm sụt giảm nghiêm trọng mực nước ngầm cục bộ và tiềm ẩn rủi ro tai biến địa chất.

Thảo luận kết quả

Thực trạng xả thải tại Dương Liễu phản ánh rõ nét nghịch lý giữa tăng trưởng kinh tế cá thể và chi phí môi trường ngoại hóa. Về mặt phân bố dữ liệu, sự chênh lệch giữa tỷ lệ cơ sở xả thải trực tiếp (70,4%) và tỷ lệ cơ sở có hệ thống xử lý (3,9%) có thể được trình bày rõ ràng thông qua biểu đồ cơ cấu xả thải hình tròn, phản ánh sự thiếu hụt nghiêm trọng về hạ tầng kỹ thuật môi trường cấp cơ sở.

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng này là do công nghệ chế biến tại địa phương vẫn mang tính phân tán, chắp vá và tận dụng máy móc cơ khí tự chế nhằm tối đa hóa lợi nhuận trước mắt. Đáng chú ý, kết quả khảo sát ghi nhận 88,8% người dân trong làng cho rằng họ không có xung đột trực tiếp với các hộ xung quanh cùng thôn xóm, trong khi có 9,9% thể hiện sự băn khoăn qua các ý kiến khác. Hiện tượng này minh chứng cho sự "thỏa hiệp ngầm" hay tính đồng thuận xã hội nội bộ: do phần lớn cư dân cùng chia sẻ nguồn thu nhập bình quân khoảng 40 triệu đồng/người/năm từ kinh tế làng nghề nên họ sẵn sàng chấp nhận mức độ ô nhiễm không khí và mùi hôi trong không gian sống của chính mình.

Tuy nhiên, rủi ro môi trường đã bị đẩy ra ngoài ranh giới hành chính của xã. Dự án Nhà máy xử lý nước thải làng nghề Cầu Ngà với công suất thiết kế 20.000 m3/ngày đêm đi vào hoạt động từ tháng 10/2016 nhưng nhanh chóng gặp sự cố tắc nghẽn kỹ thuật do lượng bã thải hữu cơ không được lắng lọc từ nguồn. Dữ liệu dòng chảy ô nhiễm liên vùng nếu được mô hình hóa qua bản đồ GIS sẽ cho thấy rõ hành lang phát tán mùi và chất ô nhiễm dọc theo các tuyến kênh T2 và T26, khẳng định luận điểm của Ulrich Beck về tính chất phi địa phương hóa của các hiểm họa sinh thái hiện đại.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực chứng, luận văn đưa ra bốn nhóm giải pháp đồng bộ nhằm kiểm soát suy thoái môi trường và củng cố an ninh trật tự tại địa bàn:

Thứ nhất, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và nâng cấp công nghệ phân loại chất thải tại nguồn. Ủy ban nhân dân xã Dương Liễu phối hợp cùng Hợp tác xã Nông nghiệp triển khai lắp đặt hệ thống lưới chắn rác và bể lắng cơ học tại 100% các hộ sản xuất tinh bột, đặt mục tiêu thu gom và tái chế 85% lượng bã sắn thải bỏ làm phân bón hữu cơ và thức ăn chăn nuôi trước năm 2020.

Thứ hai, cải tiến quy trình vận hành Nhà máy xử lý nước thải Cầu Ngà. Đơn vị quản lý vận hành là Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Phú Điền cần phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội tiến hành bảo trì hệ thống lọc tách cặn, khôi phục công suất xử lý 20.000 m3/ngày đêm theo đúng thiết kế ban đầu trong quý II/2019, đảm bảo chất lượng nước xả ra kênh tiêu đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Thứ ba, đẩy nhanh tiến độ di dời các cơ sở chế biến quy mô lớn vào Cụm công nghiệp làng nghề tập trung. Ủy ban nhân dân huyện Hoài Đức cần hoàn thiện phương án giải phóng mặt bằng và phân bổ diện tích đất sản xuất 130 ha, ưu tiên di dời 450 cơ sở chế biến công suất cao ra khỏi khu dân cư xen kẹt trước năm 2021, đồng thời ban hành quy chế nghiêm cấm các hoạt động khoan ngầm tầng sâu trái phép.

Thứ tư, thiết lập cơ chế quản trị môi trường liên xã và quỹ bồi hoàn sinh thái. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội chủ trì cơ chế phối hợp giám sát định kỳ chất lượng nước lưu vực kênh T2 và T26 giữa xã Dương Liễu với các xã hạ lưu gồm Sơn Đồng, Vân Canh, Lại Yên và Yên Sở, nhằm giải quyết triệt để 100% các mâu thuẫn phát sinh và triệt tiêu nguy cơ bùng phát xung đột bạo lực.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu mang tính liên ngành sâu sắc, phù hợp cho nhiều nhóm đối tượng thụ hưởng và ứng dụng thực tiễn:

Cán bộ quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Nghiên cứu cung cấp dữ liệu thực chứng xác thực phục vụ công tác thẩm định, quy hoạch phát triển cụm công nghiệp nông thôn và đánh giá mức độ hoàn thành Tiêu chí số 17 về Môi trường trong Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tại các địa phương có nghề chế biến.

Giảng viên, nghiên cứu viên chuyên ngành Xã hội học và Môi trường học: Tài liệu là minh chứng khoa học điển hình về việc ứng dụng Lý thuyết Xung đột môi trường và Lý thuyết Xã hội rủi ro vào phân tích các biến động an ninh phi truyền thống tại khu vực đồng bằng sông Hồng.

Chủ doanh nghiệp, hộ kinh doanh và nhà quản lý hợp tác xã làng nghề: Cung cấp góc nhìn toàn diện về rủi ro pháp lý, rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng khi không tuân thủ các quy chuẩn bảo vệ môi trường, từ đó định hướng đầu tư công nghệ sản xuất sạch hơn.

Học viên cao học và sinh viên các khối ngành Khoa học Xã hội, Kinh tế phát triển và Quản lý tài nguyên: Nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng, phương pháp xử lý dữ liệu khảo sát bằng phần mềm chuyên dụng và kỹ thuật thiết kế phỏng vấn sâu thực địa.

Câu hỏi thường gặp

An ninh môi trường làng nghề được định nghĩa như thế nào trong nghiên cứu xã hội học? An ninh môi trường làng nghề là trạng thái đảm bảo các tác động từ ô nhiễm và việc quản lý, khai thác tài nguyên không vượt quá ngưỡng chịu tải sinh thái, không gây phương hại đến sức khỏe cộng đồng, không kìm hãm phát triển kinh tế bền vững và không làm bùng phát các xung đột chính trị - xã hội trong và ngoài khu vực làng nghề.

Tại sao hiện tượng xả thải ở Dương Liễu lại gây mâu thuẫn gay gắt với các xã lân cận? Do địa hình thủy văn, 9.589 m3 nước thải chế biến giàu chất hữu cơ mỗi ngày từ Dương Liễu đổ thẳng vào hệ thống kênh dẫn T2 và T26 chảy qua các xã Sơn Đồng, Yên Đệ, Vân Canh, Lại Yên và Yên Sở. Nước thải phân hủy yếm khí sinh mùi hôi nồng nặc và gây ô nhiễm nguồn nước tưới tiêu của vùng hạ lưu, khiến người dân hạ lưu bức xúc và tổ chức chặn dòng nước thải.

Nguyên nhân chính khiến Nhà máy xử lý nước thải Cầu Ngà công suất 20.000 m3/ngày đêm sớm ngưng hoạt động là gì? Nhà máy được thiết kế để xử lý nước thải thông thường, nhưng các cơ sở sản xuất tại Dương Liễu đã xả trực tiếp nước lẫn một khối lượng bã sắn và bã dong riềng đậm đặc vào hệ thống thoát nước chung. Lượng chất thải rắn hữu cơ này không được thu gom sơ bộ tại nguồn đã gây bồi lắng nghiêm trọng và làm hư hỏng hệ thống lọc cơ khí của nhà máy chỉ sau một thời gian ngắn vận hành thử nghiệm.

Tại sao tỷ lệ mâu thuẫn nội bộ trong làng nghề về vấn đề ô nhiễm lại ghi nhận ở mức rất thấp? Khảo sát chỉ ra 88,8% hộ dân cho rằng không có mâu thuẫn nội bộ vì toàn xã có tới 3.120 hộ cùng tham gia vào chuỗi chế biến hoặc kinh doanh dịch vụ nông sản. Lợi ích kinh tế đan xen mật thiết tạo nên tâm lý chấp nhận sống chung với ô nhiễm, biến ô nhiễm thành một ngoại ứng được cộng đồng nội bộ dung thứ nhưng lại gây ảnh hưởng tiêu cực ra bên ngoài.

Việc khai thác nước ngầm tầng sâu tại làng nghề tiềm ẩn những rủi ro an ninh nào? Hàng trăm hộ chế biến tự ý khoan các giếng ngầm sâu trên 60 mét để lấy nước rửa tinh bột đã gây suy giảm nghiêm trọng tầng nước ngầm nông phục vụ sinh hoạt. Hành vi này không chỉ làm phát sinh bất bình đẳng trong tiếp cận tài nguyên nước giữa các hộ gia đình mà còn tiềm ẩn hiểm họa sụt lún nền đất cục bộ trên diện rộng trong tương lai dài hạn.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành các mục tiêu khoa học và thực tiễn thông qua năm nội dung đúc kết chính:

  • Khẳng định tính cấp thiết của việc nghiên cứu an ninh môi trường dưới góc độ xã hội học, làm sáng tỏ mối liên hệ chặt chẽ giữa ô nhiễm sinh thái và nguy cơ mất ổn định trật tự xã hội nông thôn.
  • Phản ánh trung thực khối lượng phát thải lớn với 9.589 m3 nước thải và 14 tấn rác thải mỗi ngày đêm tại làng nghề Dương Liễu trong tiến trình hoàn thiện 19 tiêu chí nông thôn mới.
  • Nhận diện bản chất xung đột môi trường liên vùng qua trục thoát nước kênh T2 và T26 do sự phân bổ bất bình đẳng giữa lợi ích kinh tế và gánh nặng ô nhiễm.
  • Chỉ rõ các nút thắt về hạ tầng kỹ thuật tại Nhà máy xử lý nước thải Cầu Ngà cùng tình trạng khai thác nước ngầm tầng sâu thiếu quy hoạch kiểm soát.
  • Thiết lập hệ thống khuyến nghị chính sách toàn diện bao gồm giải pháp công nghệ, quy hoạch cụm công nghiệp tập trung và thể chế giám sát liên xã hội.

Công trình đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho lộ trình quản trị an ninh môi trường giai đoạn 2018-2025. Để biến các phát hiện thành hành động cụ thể, các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng bắt tay vào triển khai các giải pháp xử lý chất thải tại nguồn ngay từ hôm nay nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển làng nghề nông thôn thịnh vượng và bền vững.