Chương 1: Lý luận chung về thừa kế và việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại Chương 2: Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo quy định của Bộ luật Dân sự Chương 3: Thực trạng giải quyết tranh chấp, những vướng mắc trong thực tiễn và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỪA KẾ VÀ VIỆC THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TÀI SẢN DO NGƢỜI CHẾT ĐỂ LẠI 1. THỪA KẾ VÀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT THỪA KẾ 1. Khái niệm thừa kế Thừa kế theo nghĩa chung nhất là “hưởng của người chết để lại cho” [32, tr. Ở đây, chúng ta quan tâm đến khía cạnh thừa kế về tài sản.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong mối quan hệ giữa con người với con người về tài sản, ngay từ thời kỳ sơ khai chúng ta đã phải đứng trước vấn đề: khi một cá nhân chết đi thì tài sản của họ để lại sẽ được xử lý như thế nào. Vấn đề này cũng song hành cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Tuỳ thuộc vào từng thời kỳ lịch sử, từng hình thái xã hội với những chế độ sở hữu khác nhau mà chúng ta nhận được những câu trả lời khác nhau cho vấn đề này. Ở thời kỳ đầu của chế độ cộng sản nguyên thuỷ, chế độ thị tộc, bộ lạc đã hình thành và tài sản có được thuộc về quyền chung của thị tộc, bộ lạc.
Thời kỳ này, thừa kế đã manh nha hình thành và được giải quyết theo tập tục. Trong điều kiện kinh tế, xã hội và hôn nhân phụ thuộc vào địa vị chủ đạo của người phụ nữ trong thị tộc, nên việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của người đã chết cho những người còn sống tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống và các phong tục tập quán của thị tộc.Ăngghen đã nhận xét: “Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ và theo tập tục thừa kế nguyên thuỷ trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết. Tài sản để lại trong thị tộc, nay trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao cho những người cùng huyết tộc với người mẹ” [13, tr. Sự kế thừa tài sản trong thị tộc, bộ lạc theo chế độ mẫu hệ đã đặt nền móng ban đầu cho sự hình thành và phản ánh tính tất yếu của việc thừa kế tài sản theo huyết thống.
Hiện nay, ở một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam và một số dân tộc trên thế giới vẫn duy trì việc thừa kế tài sản theo huyết thống của người mẹ. Theo tiến trình phát triển của xã hội, cùng với những sự phân công lao động trong xã hội và gia đình, người đàn ông đã tạo ra nhiều của cải nuôi sống các thành viên trong thị tộc, bộ lạc đã làm thay đổi quan hệ xã hội. Sự thiết lập địa vị của người đàn ông trong gia đình và trong từng thị tộc, bộ lạc đã là căn cứ sắp xếp lại trật tự của thị tộc, bộ lạc. Khi người đàn ông đã chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống xã hội thì chế độ mẫu hệ đã bị thay thế bằng chế độ phụ hệ.
Cũng từ căn cứ đó, các con trong gia đình có quan hệ huyết thống 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với người cha, mang họ của cha theo chế độ phụ hệ và thừa kế tài sản của người cha được xác lập. Như vậy, tương ứng với từng giai đoạn lịch sử phát triển nhất định là sự phát triển của lực lượng sản xuất, của hình thức gia đình., của sự thay đổi quan hệ sở hữu và theo đó việc thừa kế tài sản cũng thay đổi. Tóm lại, trong thời kỳ đầu của xã hội loài người - thời kỳ Nhà nước chưa xuất hiện và pháp luật chưa ra đời thì sở hữu và thừa kế tài sản đã xuất hiện như một tất yếu khách quan và nó thuộc về phạm trù kinh tế. Mối quan hệ giữa sở hữu và thừa kế phát sinh trong xã hội và được thể hiện ở chỗ: Nếu sở hữu là yếu tố tiền đề để thừa kế phát sinh thì ngược lại, thừa kế lại là phương tiện để duy trì, củng cố và phát triển sở hữu tài sản.
Thừa kế là một thực tế xã hội được thể hiện ở sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống, nó gắn chặt với lợi ích của cá nhân, gia đình, cộng đồng dòng họ., vì thế trong bất kỳ chế độ xã hội nào cũng có sự tác động của quy tắc xã hội. Quy tắc đó được biểu hiện ở những yếu tố như phong tục, tập quán và cao hơn nữa là quy phạm pháp luật. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, của cải xã hội ngày càng được làm ra nhiều hơn, không những đảm bảo cho sinh hoạt và đời sống của cộng đồng thị tộc, bộ lạc mà còn dư thừa, đời sống trong mỗi gia đình và xã hội đã có nhiều thay đổi và theo đó trong mỗi thị tộc, bộ lạc người có địa vị đã lợi dụng chức phận để chiếm đoạt một phần sản phẩm của thị tộc cùng với sự nắm quyền điều hành thị tộc, bộ lạc. Những người nắm quyền đó đã trở thành những người giàu có trong xã hội và xã hội nguyên thuỷ đã bắt đầu tan rã, nhường chỗ cho xã hội mới – xã hội có giai cấp đã xuất hiện.
Sự phân hoá này về cơ bản dựa theo mức độ, giá trị tài sản, tư liệu sản xuất mà các tầng lớp người trong xã hội chiếm hữu được khác nhau, từ đó hình thành nên chế độ tư hữu về tài sản mà chủ yếu đối với tư liệu sản xuất. Hình thức thừa kế phù hợp với chế độ tư hữu tài sản được hình thành, nó xuất hiện như một tất 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com yếu, đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ tài sản và quan hệ thừa kế tài sản. Khi giai cấp xuất hiện thì có giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, đương nhiên đối kháng giai cấp là điều không tránh khỏi. Những trật tự trong quan hệ sở hữu tài sản nói chung và trong quan hệ thừa kế nói riêng được Nhà nước của chế độ tư hữu thiết lập trong giai đoạn này nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.
Thông qua những quy phạm pháp luật, Nhà nước điều chỉnh quan hệ thừa kế trong việc xác định phạm vi chủ thể, nội dung, hình thức, điều kiện chuyển dịch tài sản thừa kế và những vấn đề khác có liên quan đến việc thừa kế tài sản. Cùng với sự hình thành, phát triển nhà nước và pháp luật của chế độ tư hữu thì sở hữu và thừa kế đều là những phạm trù pháp luật và giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Chế độ tư hữu tài sản là tiền đề của chế định thừa kế, ngược lại, chế định thừa kế là cơ sở để củng cố chế độ tư hữu tài sản. Như vậy, giữa chúng có mối liên hệ ràng buộc theo những chuẩn mực pháp luật nhất định và mang bản chất giai cấp sâu sắc.
Tất nhiên, sự thể hiên tính giai cấp trong mỗi lĩnh vực pháp luật khác nhau là khác nhau. Thậm chí, trong mỗi chế định, sự thể hiện tính giai cấp cũng có sự đậm, nhạt khác nhau. Đối với chế định thừa kế, sự thể hiện tính lịch sử, tính truyền thống có phần đậm nét hơn. Thừa kế là phạm trù pháp luật có tính khả biến.
Tính khả biến được thể hiện qua các quy phạm pháp luật mà các quy phạm này không những phụ thuộc vào mức độ phát triển trong một chế độ xã hội nhất định, nghĩa là cũng có quy định khác nhau trong việc điều chỉnh mối quan hệ về thừa kế. Thừa kế khi đó không những là phạm trù kinh tế, phạm trù pháp luật mà còn mang tính lịch sử, bởi vì nó thể hiện rõ nét quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các chế độ xã hội khác nhau và của một chế độ xã hội theo từng giai đoạn phát triển nhất định. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ sự phân tích nêu trên có thể rút ra một số kết luận: - Thừa kế là một phạm trù xuất hiện cùng với sự xuất hiện của quan hệ sở hữu từ buổi sơ khai của loài người và nó phản ánh quan hệ kinh tế - xã hội nói chung và lịch sử phát triển kinh tế - xã hội nói riêng. - Thừa kế với tư cách một phạm trù pháp luật cũng phản ánh tính giai cấp đồng thời so với các chế định khác của dân luật thì thừa kế phản ánh rõ nét hơn văn hoá truyền thống.
Quan hệ pháp luật thừa kế 1. Khái niệm Từ khi giai cấp xuất hiện, Nhà nước ra đời, để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, các quan hệ xã hội nói chung, trong đó có thừa kế đã được Nhà nước điều chỉnh bằng một loại quy phạm mới đó là quy phạm pháp luật. Trong lý luận pháp lý hiện đại, khi các quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng pháp luật thì những quan hệ đó không chỉ đơn thuần mang tính kinh tế - xã hội hay lịch sử mà nó còn mang tính pháp lý và khi đó những quan hệ này được gọi là những quan hệ pháp luật. Các nhà khoa học pháp lý đã định nghĩa: “Quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội xuất hiện dưới tác động điều chỉnh của các quy phạm pháp luật” [20, tr.
Các quan hệ pháp luật được cấu thành bởi ba yếu tố: 1) Chủ thể; 2) Khách thể; 3) Quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý; và phát sinh, thay đổi, chấm dứt căn cứ trên các sự kiện pháp lý. Trên cách thức tiếp cận truyền thống của khoa học pháp lý về quan hệ pháp luật, chúng ta cùng làm sáng tỏ những khía cạnh lý luận của khái niệm “quan hệ pháp luật thừa kế”. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việc dịch chuyển tài sản của cá nhân người đã chết cho những người còn sống luôn tồn tại quan hệ giữa người với người. Khi mối quan hệ giữa người với người trên cơ sở tài sản của người chết để lại được Nhà nước điều chỉnh bằng pháp luật thì chúng trở thành quan hệ pháp luật thừa kế - một loại quan hệ pháp luật dân sự.
Quan hệ pháp luật dân sự được xác định là nhóm các quan hệ xã hội do pháp luật dân sự điều chỉnh. Các quan hệ pháp luật dân sự rất phong phú, đa dạng về chủ thể, khách thể, nội dung, cách thức phát sinh.