phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn được chia làm 02 chương. Cụ thể: Chƣơng 1. Nghĩa vụ của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
8 CHƢƠNG 1 NGHĨA VỤ CỦA CHA, MẸ TRỰC TIẾP NUÔI CON ĐỐI VỚI NGƢỜI KHÔNG TRỰC TIẾP NUÔI CON SAU KHI LY HÔN 1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con không đƣợc cản trở ngƣời không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con Chăm sóc, giáo dục là nền tảng quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người. Mỗi đứa trẻ khi sinh ra đời đều có quyền được thụ hưởng sự chăm sóc, giáo dục từ phía cha mẹ. Sau khi cha mẹ ly hôn, con chỉ có thể sống chung với một trong hai người hoặc sống cùng những người thân thích khác.
Tuy nhiên, trong thực tế việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con sau ly hôn của người không trực tiếp nuôi con không dễ dàng, nhiều trường hợp bị cản trở. Bên cạnh nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con vẫn phải đảm bảo quyền được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con thông qua cơ chế quyền và nghĩa vụ thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con được ghi nhận tại khoản 3 Điều 82 Luật HN&GĐ năm 2014, cụ thể “sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng phát sinh những bất cập sau: Thứ nhất, cách thức, thời gian, địa điểm thực hiện quyền và nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn Khoản 3 Điều 82 Luật HN&GĐ năm 2014 chỉ quy định người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chứ không ghi nhận cụ thể về cách thức cũng như thời gian, địa điểm thực hiện quyền và nghĩa vụ này. Trong thực tiễn xét xử, hầu hết các Tòa cũng tuyên theo hướng “người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”.
Nhìn chung, liên quan đến vấn đề này, quy định pháp luật cũng như hướng giải quyết của Tòa chưa thực sự cụ thể. Thực tế, lộ trình thăm nom con thông thường do hai bên tự thỏa thuận với nhau, chẳng hạn như một tuần thăm một lần, hai lần trong những thời gian cố định hoặc ngày nghĩ lễ, tết… Đó là việc của các bên đương sự thỏa thuận với nhau, nếu có tranh chấp phát sinh thì các bên có thể nhờ đến Cơ quan thi hành án giải quyết. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp các bên đã thỏa thuận với nhau về thời gian, địa điểm thăm con nhưng một hoặc cả hai bên không thực hiện theo đúng thỏa thuận. Chẳng hạn: 9 Tình huống: Bản án dân sự sơ thẩm số 413/2018/HNGĐ-ST ngày 09 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con”. Giữa Nguyên đơn: Bà Hứa Đặng Thu T và Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng C1. Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của Bản án sơ thẩm như sau: Ông C1 và bà Hứa Đặng Thu T đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 1152/2016/QĐST-HNGĐ, ngày 02/12/2016 của TAND quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông C1 và bà T có một người con chung là Nguyễn Minh C2, sinh ngày 03/05/2014.
Ông C1 là người trực tiếp nuôi con, bà T không phải cấp dưỡng nuôi con. Tại thời điểm ly hôn trẻ C2 chưa đủ 36 tháng tuổi, theo quy định của pháp luật thì phải giao con cho mẹ trực tiếp nuôi dạy nhưng với sự vận động, giải thích pháp luật của Thẩm phán và có sự cam kết của ông C1 nên bà cùng ông C1 thỏa thuận về việc thăm nom con chung, do đó bà đồng ý giao con chung cho ông C1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ngoài ra giữa bà và ông C1 có lập thỏa thuận về việc bà T đến thăm nom, chăm sóc và đưa con đi chơi về nhà ngoại. Thời gian đầu ông C1 luôn hợp tác và tạo điều kiện cho bà thăm nom đưa đón con, nhưng sau khi trẻ C2 đủ 36 tháng tuổi thì ông C1 có sự thay đổi và có những biểu hiện, hành vi gây cản trở cho bà trong việc thăm nom đưa đón con, luôn tìm cách gây khó khăn và cản trở bà khi bà đưa con về nhà ngoại chơi, đã nhiều tuần bà không được đón con.
Bà đến trường thăm con thì ông C1 tìm cách cản trở. Trong thời gian sống tại nhà ông C1, ông C1 gây sức ép với con làm cho con cảm thấy sợ mẹ. Khi bà T đón con về nhà ngoại thì con hoàn toàn không có biểu hiện sợ sệt ai cả mà vui chơi thoải mái, trẻ C2 thường nói với bà là cháu muốn ở với mẹ và không muốn về nhà với ba. Ông C1 tự mình đưa con đi khám bác sỹ về tâm lý và gây sức ép với bà T, giáo dục con với ý nghĩ không thích gần mẹ, cố tình cản trở bà đến thăm con.
Từ vụ án trên, có thể thấy, việc thiếu khuyết những quy định mang tính định hướng khi xác định cách thức, thời gian cũng như địa điểm thăm nom con có thể dẫn đến nhiều hệ lụy tiêu cực, khiến cho quyền lợi chính đáng của con không được bảo đảm. Như vậy, pháp luật HN&GĐ Việt Nam hiện hành có ghi nhận cơ chế quyền và nghĩa vụ thăm nom con của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn 10 nhưng lại không ghi nhận cụ thể về việc xác định cách thức, thời gian, địa điểm thăm nom con, với bất cập này Toà án khi thụ lý giải quyết yêu cầu của người dân, đã gặp không ít khó khăn, nhiều bản án, quyết định bị chính người dân kháng cáo. Chẳng hạn: Tình huống: Theo bản án số 179/2016/HNGĐ-ST ngày 18.2016 của TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, đã quyết định xử cho anh K và chị H ly hôn, về con chung: Giao cháu N cho chị H nuôi dưỡng, anh K cấp dưỡng nuôi con. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.2016 anh K kháng cáo với nội dung: Không nhất trí với phán quyết của bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp 1 phúc thẩm làm rõ quyền thăm nom con, đưa đón con chung.
Kiến nghị: Cần sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 81 và khoản 3 Điều 82 Luật HN&GĐ năm 2014 theo hướng: Khi vợ chồng ly hôn, việc xác định người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của các bên đối với con, cách thức, thời gian, địa điểm thực hiện việc thăm nom con, do vợ chồng thoả thuận, trường hợp không thoả thuận được, Toà án sẽ quyết định. Hướng quy định này cũng đã được ghi nhận trong pháp luật của một số nước, chẳng hạn pháp luật Hoa Kỳ quy định: Quyền thăm viếng con có thể được thực hiện trên cơ sở một lịch trình chính thức (lịch thăm viếng) do cha mẹ thỏa thuận được Tòa án công nhận hoặc do Tòa án ấn định. Là một nội dung của kế hoạch nuôi dạy con, lịch thăm viếng là một bản kê chi tiết về quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con, trong đó ấn định nơi trẻ sẽ sống chủ yếu, thời gian thăm viếng (vào cuối tuần hay ngày lễ, kỳ nghỉ hè, ngày sinh nhật của trẻ và vào những thời điểm quan trọng khác). Lịch thăm viếng nêu rất cụ thể các vấn đề liên quan để tránh sự xung 2 đột giữa cha, mẹ.
Còn ở Pháp, Điều 1080, 1084, 1110 Bộ luật Tố tụng dân sự ban hành năm 1806, được sửa đổi, bổ sung năm 1998 quy định vợ chồng ly hôn phải lập bản dự án chi tiết trình bày những biện pháp cần thực hiện để đảm bảo quyền lợi của con. Toà án chỉ công nhận và xử cho ly hôn nếu bản thoả thuận có điều kiện và 3 những đảm bảo cần thiết về việc trông nom cùng các khoản trợ cấp cho con. 1 Nguyễn Thị Ngọc Mai (2021), Nghĩa vụ và quyền của cha, mẹ đối với con chung sau khi ly hôn, luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr.
2 Trịnh Thị Hoà Thuỷ (2021), Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 3 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2018), Sách tình huống (Bình luận bản án) Luật Hôn nhân và gia đình, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.
11 Thứ hai, chế tài đảm bảo thực thi quyền và nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn Việc thăm nom con nhằm tạo sự gần gũi, gắn bó giữa cha, mẹ với con không sống chung. Bên cạnh đó, việc thăm nom con cũng phần nào làm giảm đi nỗi thất vọng, tổn thương, giúp con cảm nhận được tình thương của cả cha và mẹ dành cho mình. Do đó, để đảm bảo quyền lợi chính đáng của con, khoản 2 Điều 83 Luật HN&GĐ năm 2014 ghi nhận: “Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”. Quy định này là cần thiết, bởi lẽ mâu thuẫn gia đình là một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn đến quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng không thể tiếp tục.
Do vậy, không loại trừ khả năng người trực tiếp nuôi con vì những mâu thuẫn trước đó nên không muốn tiếp tục giữ bất kỳ liên lạc nào với người còn lại, đồng thời cũng không muốn người không trực tiếp nuôi con gặp gỡ, liên lạc với con. Tuy nhiên pháp luật về HN&GĐ chưa có quy định xác định thế nào bị xem là hành vi cản trở quyền thăm nom con. Điều này sẽ khiến cho việc áp dụng pháp luật của các Tòa án để giải quyết những vụ việc như trên là không thống nhất. Vì vậy, TAND tối cao với chức năng, nhiệm vụ là hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật và tổng kết kinh nghiệm xét xử của các Tòa án nên dựa trên kết quả tổng kết kinh nghiệm xét xử của các tòa để ban hành văn bản hướng dẫn về các vấn đề trên để việc giải quyết vụ việc của các Tòa án được nhanh chóng và thống nhất.