phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận gồm 03 chương: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận về nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự Chƣơng 2. Quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về nghĩa vụ của người bào chữa Chƣơng 3. Thực tiễn thực hiện nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự và giải pháp 9 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ CỦA NGƢỜI BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.
Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa về nghĩa vụ của ngƣời bào chữa trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm và đặc điểm nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự - Khái niệm nghĩa vụ ngƣời bào chữa: Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam không đưa ra khái niệm nghĩa vụ của người bào chữa, nhưng dựa trên các quy định của pháp luật dân sự, từ điển luật học, chuyên gia luật học cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nghĩa vụ. Nghĩa vụ là việc phải làm theo bổn phận của mình. Mối quan hệ phát sinh giữa một hay nhiều chủ thể (gọi là người có nghĩa vụ) phải làm một công việc, thực hiện một hành vi hoặc không được làm một công việc, một hành vi, vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (gọi là người có quyền).
Thông thường, nghĩa vụ luôn đi đôi với quyền như quyền công dân đi liền với nghĩa vụ công dân, làm nghĩa vụ thì phải được hưởng quyền. Một chủ thể làm nghĩa vụ là để thỏa mãn nhu cầu, đòi hỏi lợi ích của một chủ thể khác có quyền như người vay nợ có nghĩa vụ trả nợ cho người cho vay, người 16 có quyền đòi khi nợ đến ngày phải trả được thỏa thuận từ trước. Nghĩa vụ là việc theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện được công việc nhất định vì lợi ích 17 một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền). Nghĩa vụ là những hành vi mà một người phải thực hiện vì lợi ích của người khác.
Có ba loại nghĩa vụ: Nghĩa vụ theo phong tục (nghĩa vụ do phong tục, tập quán của địa phương quy định); nghĩa vụ về đạo đức, nhân văn (con phải có hiếu với cha mẹ, vợ chồng phải chung thủy với nhau); nghĩa vụ pháp lý (những nghĩa vụ đã được pháp luật quy định, nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và các luật quy định). Vi phạm nghĩa vụ pháp lý thì tùy theo mức độ mà có thể bị xử lý theo kỷ luật 16 Viện khoa học pháp lý (1999), Từ điển luật học, Nhà xuất từ điển bách khoa – Nhà xuất bản tư pháp, số tr. 17 Điều 274 Bộ luật dân sự năm 2015. 10 hành chính hoặc theo các chế tài hình sự: phạt tù, tử hình hoặc theo các chế tài dân 18 sự: phạt tiền, buộc bồi thường thiệt hại.
Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo quy định của pháp luật thì một hoặc nhiều chủ thể phải làm hoặc không được làm một công việc vì lợi ích của một hoặc nhiều 19 chủ thể khác. Nghĩa vụ là việc mà pháp luật hay đạo đức bắt buộc phải làm đối với xã hội, 20 đối với người khác. Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác, hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích 21 của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền). Bàn về nghĩa vụ là nói đến những bổn phận mà người bào chữa phải tuân thủ, nếu muốn dành sự tôn trọng từ phía các chủ thể có thẩm quyền tiến hành thủ tục tố tụng cũng như sự tin cậy trong con mắt khách hàng của mình.
Vì thế, các quy phạm pháp luật sẽ cố gắng thoát ra khỏi những khái niệm trừu tượng, ngôn ngữ mang tính biểu trưng, cũng như các phạm trù đạo đức, để gọi tên đích thực những nghĩa vụ mà 22 người bào chữa phải thực hiện. Qua nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nghĩa vụ, tác giá đưa ra khái niệm về nghĩa vụ người bào chữa như sau: Nghĩa vụ của người bào chữa là hành vi bắt buộc mà người bào chữa phải thực hiện hoặc không được thực hiện vì lợi ích của người bị buộc tội và trước công lý. - Đặc điểm nghĩa vụ của ngƣời bào chữa: Thứ nhất, nghĩa vụ của người bào chữa thể hiện mối quan hệ pháp lý ràng buộc giữa người bào chữa với người bị buộc tội: Đó là mối quan hệ pháp lý giữa người bào chữa với người bị buộc tội. Trên cơ sở quy định của pháp luật hình sự người bào chữa và người bị buộc tội đều là người tham gia tố tụng, địa vị pháp lý khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau.
18 Viện khoa học pháp lý (1999), tlđd (16), tr. 19 Trường đại học luật luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb công an nhân dân, số tr.83 20 Từ điển mở (2020), thuật ngữ nghĩa vụ, tại trang https://vi.org/wiki/nghĩa vụ - tiếng việt. 21 Nguyễn Ngọc Điệp, 3450 thuật ngữ pháp lý phổ thông, Nhà xuấn bản giao thông vận tải, số tr. 22 Phan Trung Hoài (2016), tlđd (6), tr.
11 Theo khoản 1 Điều 72 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định “người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa”. Khi người bào chữa đồng ý nhận lời bào chữa cho người bị buộc tội thì mối quan hệ giữa người bào chữa với người bị buộc tội là mối quan hệ pháp lý dân sự, quyền và nghĩa vụ giữa các bên luôn được xác lập, buộc hai bên phải thực hiện theo đúng nội dung đã cam kết, bên nào vi phạm thì phải chịu trách nhiệm. Mối quan hệ pháp lý giữa người bào chữa với người bị buộc tội xuất hiện khi người bị buộc tội nhờ người bào chữa và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa. Về mặt pháp lý, thực chất mối quan hệ giữa người bào chữa với người bị buộc tội trong vụ án hình sự là quan hệ “nhờ và nhận” bào chữa cho người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các giai đoạn tố tụng.
Trong quan hệ này, pháp luật đề cao tính tự nguyện trong giao dịch, thỏa thuận xác định rõ ràng quyền và nghĩa vụ các bên, kể cả thù lao bào chữa, mối quan hệ này có thể nhận diện trên ba phạm vi: Quan hệ trong phạm vi tham gia bào chữa trong các giai đoạn tố tụng; quan hệ tư cách con người trong đời sống xã hội; quan hệ tài sản giữa luật sư với 23 khách hàng. Thứ hai, nghĩa vụ người bào chữa bảo đảm lợi ích cho chủ thể có quyền tương ứng: Khi tham gia vào mối quan hệ pháp lý giữa người bào chữa với người bị buộc tội, các bên tham gia luôn hướng tới một lợi ích nhất định, lợi ích ở đây có thể là vật chất hoặc tinh thần. Người bào chữa tham gia tố tụng có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị buộc tội vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Quyền được hưởng thù lao từ việc bào chữa cho người bị buộc tội.
Còn người bị buộc tội muốn quyền và lợi ích hợp pháp của mình được bảo vệ một cách tốt nhất thì phải cần đến người bào chữa, và có nghĩa vụ trả thù lao cho người bào chữa. Thứ ba, nghĩa vụ của người bào chữa góp phần bảo đảm công lý và hoạt động tố tụng hình sự: 23 Phan Trung Hoài, Chu Thị Trang Vân (2019), Sổ tay luật sư – tập 2, Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, số tr. 12 Người bào chữa khi tham gia tố tụng hình sự ngoài nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích cho người bị buộc tội, còn có nghĩa vụ bảo đảm công lý và bảo đảm hoạt động tố tụng hình sự. Bổn phận người bào chữa là tôn trọng sự thật, không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật và người bào chữa không được hứa hẹn kết quả trước.
Người bào chữa phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thuộc trường hợp chỉ định; không tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện bào chữa sử dụng, không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thứ tư, nghĩa vụ của người bào chữa nếu vi phạm người bào chữa phải chịu hậu quả trách nhiệm pháp lý: Người bào chữa là luật sư khi tham gia tố tụng hình sự ngoài tuân theo nghĩa vụ của người bào chữa theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, còn chịu điều chỉnh Luật luật sư năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012 và chịu quy ước của Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư 2019. Đặc điểm nghĩa vụ của người bào chữa này phù hợp với tính chất nghề nghiệp của người bào chữa là luật sư, là chịu điều chỉnh nhiều quan hệ pháp luật, nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm của người bào chữa đối với người bị tội và trước công lý. Khi tham gia tố tụng người bào chữa phải thực hiện theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, nếu vi phạm thì phải chịu hậu quả trách nhiệm pháp lý.