CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI CHÚNG. Khái quát về nghĩa vụ công bố thông tin của công ty cổ phần đại chúng. Khái niệm nghĩa vụ công bố thông tin của công ty cổ phần đại chúng. Công ty cổ phần đại chúng Với một nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển như hiện nay, các công ty cổ phần (CTCP) đã có sự phân hóa rõ nét về nhiều mặt, từ quy mô vốn, số lượng cổ đông cho đến cách thức vận hành và đặc biệt là các CTCPĐC (từ đây gọi tắt là công ty đại chúng).
Ở Anh, công ty đại chúng (CTĐC) được gọi là public limited company, viết tắt là Plc (đuôi Plc bắt buộc phải ghi sau tên công ty). 4 CTĐC cần số vốn tối thiểu là 50.000 bảng Anh, được huy động vốn và giao dịch cổ phần rộng rãi, số cổ đông tham gia không giới hạn và có tối thiểu hai thành viên quản trị thường trực. Ở Hoa Kỳ, CTĐC là loại “C Corporation” (CTCP có trên 100 cổ đông). Khác với S Corporation là hình thức công ty chỉ được phát hành một loại cổ phần duy nhất, có số cổ đông không vượt quá 100 và cổ đông phải là cá nhân mang quốc tịch Mỹ, C Corporation phải đóng thuế thu nhập công ty và cổ đông khi nhận cổ tức phải khai thuế thu nhập lần nữa.5 Tuy nhiên, một số quốc gia không tiếp cận CTĐC dưới góc độ Luật Công ty/Luật Doanh nghiệp mà khái niệm CTĐC được tiếp cận ở LCK như : 6 Điều 110 Luật Chứng khoán Bulgari quy định:“Công ty đại chúng là công ty: đã phát hành cổ phần của công ty theo các điều kiện của việc phát hành ra công chúng lần đầu, hoặc đã đăng ký với Ủy ban chứng khoán về việc phát hành chứng khoán với mục đích tham gia giao dịch tại TTCK được quản lý”.Hay theo Luật Chứng khoán Ba Lan (Khoản 4 Điều 4): “Công ty đại chúng là công ty có cổ phiếu của ít nhất một lần phát hành được chấp thuận cho giao dịch nơi công chúng”.
Như vậy, có thể thấy phần lớn các quốc gia trên thế giới xem hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng là tiêu chí đặc trưng để xác định tư cách CTĐC, chính hoạt động này tạo nên “tính đại chúng” cho loại hình công ty này. 4 Section 58, Companies Act 2006 (Luật Công ty Anh 2006) 5 Huy Nam (2010), “Thế nào là công ty đại chúng”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số 22, tr. 24 6 Nguyễn Thế Thọ (2009), Giáo trình Pháp luật chứng khoán và TTCK, Nxb Thống Kê, tr. 103-104 6 Tại Việt Nam, khái niệm về “Công ty đại chúng” xuất hiện khá trễ.
Mãi khi LCK 2006 được thông qua thì cơ sở pháp lý về định nghĩa thuật ngữ “Công ty đại chúng” mới được xuất hiện, cũng bắt đầu từ đây các nhà làm luật thiết lập cơ chế pháp lý riêng biệt để điều chỉnh hoạt động của CTĐC. Tuy nhiên trước khi LCK ra đời thực tế đã xuất hiện mô hình CTĐC dưới dạng: (i) Các CTNY phát hành chứng khoán số lượng lớn ra công chúng, từ trước khi LCK 2006 có hiệu lực (Quyết định 07/2002/QĐ- VPCP về việc ban hành Điều lệ Mẫu áp dụng CTNY). (ii) công ty cổ phần phát hành riêng lẻ nhiều lần có số lượng cổ đông lớn, theo Luật Công ty 1990, Luật Doanh nghiệp 1999.7 Hiện nay, khái niệm CTĐC được quy định tại khoản 1 Điều 32 LCK 2019: CTĐC là CTCP thuộc một trong hai loại hình sau đây: - Công ty có vốn điều lệ đã góp từ 30 tỷ đồng trở lên và có tối thiểu là 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn nắm giữ, so với LCK 2006, quy định mới đã nâng điều kiện CTĐC về vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng lên 30 tỷ đồng và sửa đổi, bổ sung điều kiện về cơ cấu cổ đông có tối thiểu 10% cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn nắm giữ. - Công ty đã thực hiện chào bán thành công cổ phiếu lần đầu ra công chúng thông qua đăng ký với UBCKNN, đây là hoạt động phát hành cổ phiếu ra công chứng và được thực hiện bằng một trong ba cách thức sau: (i) chào bán thông qua phương tiện thông tin đại chúng; (ii) chào bán cho từ 100 nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; (iii) Chào bán cho các nhà đầu tư không xác định.8 Các CTCP khi trở thành CTĐC ngoài việc chịu sự điều chỉnh pháp luật về doanh nghiệp thì các công ty này còn phải tuân theo các quy định của LCK về CBTT, các quy chế Quản trị công ty.
Các CTCP khi đủ các điều kiện trở thành CTĐC phải thực hiện việc đăng ký với UBCKNN để trở thành CTĐC. Như vậy có thể thấy rằng, định nghĩa về CTĐC đã được xác định một cách rõ ràng, phù hợp thông lệ quốc tế cũng như tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay. Nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Trên TTCK, thông tin rất phong phú và đa dạng, có thể xuất phát từ rất nhiều nguồn khác nhau như từ CTĐC, tổ chức kinh doanh chứng khoán, từ cơ quan quản lý thị 7 Lương Đình Thi (2015), Pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 13 8 Khoản 1 Điều 32 Luật Chứng khoán năm 2019 7 trường hay từ nhà đầu tư,.
Các thông tin này phản ánh tình hình TTCK, tình hình tổ chức niêm yết,…dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Đó có thể là thông tin liên quan đến lệnh mua, bán chứng khoán, thông tin về tổ chức phát hành, thông tin về biến động giá chứng khoán hay các thông tin khác có ảnh hưởng đến TTCK. Dưới góc độ kinh tế có thể hiểu, thông tin trên TTCK là tập hợp các số liệu, tin báo, những chi tiêu, tư liệu liên quan đến chứng khoán và TTCK, phản ánh tình hình TTCK, tình hình tài chính doanh nghiệp, tiềm năng, khả năng sinh lời của chứng khoán ở hiện tại và tương lai, giúp cho đối tượng tiếp nhận thông tin thông qua đó đạt được mục đích mong muốn. Dưới góc độ pháp lý, thông tin trên TTCK là hệ thống tư liệu phản ánh mức độ tuân thủ pháp luật của các chủ thể tham gia thị trường, phản ánh mối quan hệ pháp luật trong nội bộ doanh nghiệp như quan hệ giữa cổ đông và thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT), thành viên Ban Kiểm soát (BKS), Ban giám đốc thông qua việc thực hiện các quy định về CBTT cũng như quan hệ giữa doanh nghiệp và các chủ thể khác tham gia TTCK.
Như vậy, có thể hiểu thông tin trên TTCK là hệ thống các chỉ số, thông số, báo cáo, tin tức, nhận định liên quan đến chứng khoán và TTCK, đều trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến giá chứng khoán và quyết định của các chủ thể tham gia thị trường. Qua đó thấy rằng, đối với các nhà đầu tư chứng khoán, thông tin luôn được xem như một dạng rủi ro ảnh hưởng trực tiếp đến TTCK nói chung cũng như doanh nghiệp nói riêng bởi lẽ khi rủi ro xảy ra đều dẫn đến thiệt hại về tài chính cho doanh 9 nghiệp và rộng hơn là cho nền kinh tế. Và như đã phân tích ở trên, CTĐC trên TTCK với đặc thù bởi hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng với sự tham gia của số lượng lớn nhà đầu tư không phải cổ đông lớn vào công ty tạo nên quan hệ một cách gián tiếp lẫn trực tiếp của cổ đông/chủ sở hữu – công ty ở góc độ LDN; nhà đầu tư – CTĐC ở góc độ LCK hay cả quan hệ sở hữu tài sản dưới góc độ lý luận. Và khi số vốn tham gia lẫn số lượng các nhà đầu tư càng lớn thì sự ảnh hưởng của thông tin đến thị trường là không hề nhỏ, nhưng liệu các nhà đầu tư có khả năng nắm hết tất cả thông tin trên hay không, nói cách khác nhà đầu tư mong muốn hay có quyền biết những thông tin nào, thông tin nào sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ khi tham gia vào TTCK.
Nhưng cũng phải giải quyết được câu hỏi, quyền và lợi ích hợp pháp của họ hình thành từ đâu mà phải được bảo vệ, chế định nào bảo vệ cho lợi ích của họ. Và theo khái niệm tại Điều 274 Bộ luật 9“Quản lý rủi ro thông tin trên thị trường chứng khoán: Thực trạng và giải pháp”, https://tapchitaichinh.vn/kinh- te-vi-mo/quan-ly-rui-ro-thong-tin-tren-thi-truong-chung-khoan-thuc-trang-va-giai-phap-132928.html truy cập ngày 10/6/2021 8 Dân sự 2015, “Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”. Như vậy xét trong mối quan hệ nhà đầu tư và CTĐC thì nghĩa vụ CBTT cũng chính là một phần của mối quan hệ này (nội dung của quan hệ), việc thực hiện CBTT chính là vì bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ lẻ, cá thể, khả năng phân tích thông tin và tìm hiểu thị trường còn hạn chế. Ngoài ra ở một khía cạnh khác hơn, nghĩa vụ CBTT còn là nghĩa vụ của CTĐC đối với cơ quan quản lý nhà nước, nghĩa vụ này là một công cụ pháp lý hiệu quả trong việc thực hiện chức năng giám sát hoạt động kinh doanh, thúc đẩy nâng cao trách nhiệm giải trình và tính minh bạch trong các hoạt động của công ty và công tác Quản trị công ty.10 Từ đó, giúp hoạt động mua bán của TTCK vận hành một cách trôi chảy và đặt hiệu suất cao, góp phần tạo nên một TTCK bền vững, ổn định và phát triển.
Qua tìm hiểu và phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa ngắn gọn về nghĩa vụ CBTT của CTĐC như sau: nghĩa vụ CBTT của CTĐC là việc CTĐC bắt buộc phải thực hiện hoạt động CBTT công khai, minh bạch các thông tin tài chính và phi tài chính liên quan đến hoạt động của chính tổ chức mình trên các phương tiện thông tin đại chúng để các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận một cách dễ dàng nhất đồng thời đảm bảo việc tuân thủ các quy định của pháp luật. Đặc điểm hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng.