CHƯƠNG 1 XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG ĐỂ THI HÀNH NGHĨA VỤ CHUNG VỀ TÀI SẢN 1. Xác định tài sản chung của vợ chồng là bất động sản để thi hành án Theo Điều 33 LHNGĐ, tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Theo Điều 74 LTHADS, trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Chấp hành viên có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự khi người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải quyết và hết thời hạn do luật định.
Theo điểm c Khoản 2 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (sau đây tạm gọi là Nghị định 33/2020/NĐ- CP) đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết. Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản, thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất. Chấp hành viên thông báo kết quả xác định phần sở hữu, sử dụng cho các thành viên trong hộ gia đình biết. Trường hợp vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình không đồng ý với việc xác định của Chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ.
Hết thời hạn này mà không có người khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản và trả lại cho vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của họ. 8 Với các quy định như trên về xác định tài sản chung của người phải thi hành án với người khác nói chung, của vợ chồng nói riêng, là bất động sản để thi hành án, tác giả nhận thấy có những tồn tại, bất cập như sau: Thứ nhất, quy định về quyền phân chia tài sản chung của vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng với người khác của CHV trong luật thi hành án dân sự là chưa thật thuyết phục, chính xác. Theo Điều 38 LHNGĐ, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Theo Khoản 2 Điều 59 LHNGĐ, khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố: Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng góp của vợ, chồng; bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp; lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Đối chiếu giữa điểm c Khoản 2 NĐ số 33/2020/NĐ-CP và Điều 38, Điều 59 LHNGĐ, tác giả nhận thấy các quy định này là không tương thích. Một, nếu CHV xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì CHV chỉ có thể chia đôi tài sản chung của vợ chồng. Như, đối với tài sản thuộc quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình. Cách chia này là theo cơ học, dựa vào tổng giá trị chia đều cho các thành viên có quyền sở hữu, sử dụng tài sản.
Hai, theo Điều 38, Điều 59 LHNGĐ, khi chia tài sản chung của vợ chồng, Tòa án phải cân nhắc nhiều yếu tố và quyết định chia phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mỗi bên vợ chồng. Việc chia tài sản chung của vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng với người khác như quy định của pháp luật THADS là không đảm bảo quyền sở hữu, sử dụng của chủ sở hữu, sử dụng. Ba, theo Điều 64 LHNGĐ, khi chia tài sản chung của vợ chồng, vừa phải căn cứ vào LHNGĐ vừa phải căn cứ vào Luật Doanh nghiệp năm 2020. Với cách chia cơ học như trên là không đảm bảo quyền của doanh nghiệp.
Ví dụ: Điều 50 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Bốn, theo Điều 62 LHNGĐ, việc chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất vừa phải căn cứ vào LHNGĐ vừa phải căn cứ vào Luật Đất đai năm 2013. Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, việc chia tài sản chung của vợ chồng, 9 của hộ gia đình, phải đảm bảo các yếu tố sau: Về chủ thể được chia tài sản chung là quyền sử dụng đất (Điều 5 LĐĐ); về thời hạn sử dụng đất (Điều 125 LĐĐ); về hạn mức được giao đất (Điều 129 LĐĐ) và về mục địch sử dụng đất (Điều 143 LĐĐ). Năm, khi CHV chia tài sản chung của vợ chồng, chia tài sản chung của vợ chồng với người khác thì áp dụng Khoản 1 Điều 74 LTHADS hay điểm c Khoản 2 NĐ số 33/2020/NĐ-CP? Theo quy định tại Khoản 1 Điều 74 LTHADS, khi chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án chia.
Trên cơ sở phán quyết của Tòa án, CHV xử lý tài sản theo quy định. Trong khi đó, điểm c Khoản 2 NĐ số 33/2020/NĐ-CP quy định: CHV xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết. Đối với tài sản chung là quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình, Chấp hành viên chia theo số lượng thành viên của hộ gia đình. Khoản 2 Điều 164 BLDS quy định: Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tương tự, theo Điều 187 BLTTDS, CHV không có quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của người khác. Với các quy định nêu trên, có sự không thống nhất trong việc xác định chủ thể, phương thức chia tài sản chung của vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng với người khác để THA. Theo Khoản 1 Điều 74 LTHADS thì Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng với người khác, theo điểm c Khoản 2 NĐ số 33/2020/NĐ-CP thì CHV chia. Đó là chưa kể, giữa quy định của LTHADS với các luật liên quan đã nêu, có sự không đồng nhất về chia tài sản chung của vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng với người khác để THA.
Ví dụ: Bản án 09/2017/DS-PT ngày 24/0/2017 về tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án dân sự1. Trong bản án này, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử phúc thẩm nhận xét: (1) Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện ngày 16/11/2014 Chấp hành viên đã niêm yết hợp lệ thông báo 294A ngày 15/1/2014 đối với ba đương sự, còn 04 đương sự chưa nhận được văn bản nào của cơ quan thi hành án liên quan đến tài sản chung 1 https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/ban-an-092017dspt-ngay-2402017-ve-tranh-chap-lien-quan-den-tai-san -bi-cuong-che-de-thi-hanh-an-42049, truy cập lúc 15h ngày 22. 10 của hộ gia đình đã kê biên để thi hành án; (2) đây là việc dân sự chứ không phải là vụ án dân sự. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định: Hủy bản án sơ thẩm số 11/2016/DSST ngày 02 tháng 11 năm 2016 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hòa Bình xét xử vụ án tranh chấp tài sản liên quan đến tài sản cưỡng chế thi hành án, giữa nguyên đơn ông Đỗ Đức T- Chấp hành viên Chi cục thi hành án dân sự thành phố H; các bị đơn và đình chỉ giải quyết vụ án.
Trong bản án này, tác giả nhận thấy: Một, Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án là đúng theo thẩm quyền quy định tại Điều 26, Điều 27 BLTTDS. Theo Điều 74 LTHADS, Chấp hành viên có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác theo quy định. Hai, Tòa án chưa đảm bảo quyền được thỏa thuận chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết của các đương sự thông qua việc thông báo văn bản THADS không đúng luật. Ba, vụ việc thi hành án này sẽ kéo dài do việc yêu cầu Tòa án giải quyết và việc thi hành án đan xen.
Kết quả của việc thi hành án phụ thuộc vào kết quả giải quyết việc chia tài sản chung của người phải thi hành án với với người khác của TAND. Thứ hai, xác định việc Chấp hành viên phân chia tài sản chung của vợ chồng với người khác làm giảm đáng kể giá trị của tài sản.