Chương 1: Những vấn đề lý luận về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam Chương 2: Quy định pháp luật hiện nay về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam. Chương 3: Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 1. Khái quát chung về nghĩa vụ chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam 1.
Khái niệm và ý nghĩa của nghĩa vụ chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự * Khái niệm nghĩa vụ chứng minh Về bản chất, chứng minh trong tố tụng là một quá trình gồm thu thập, cung cấp, sử dụng chứng cứ nhằm làm sáng tỏ cơ sở pháp lý cũng như cơ sở thực tế các yêu cầu của các bên đương sự trong vụ án. Mỗi một chủ thể tham gia vào quá trình này có những quyền và nghĩa vụ riêng biệt, tùy thuộc vào vị trí tố tụng của từng chủ thể. Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015) quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu khởi kiện thuộc về đương sự. Toà án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ khi đương sự đã áp dụng mọi biện pháp nhưng vẫn không tự thu thập được và có yêu cầu Toà án tiến hành thu thập.
Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định [30, Điều 6]. Nguyên tắc này được cụ thể hoá tại Điều 91 BLTTDS 2015 như sau: 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập; cung cấp; giao nộp cho Tòa án tài liệu; chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp; trừ các trường hợp sau đây: a) Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức; cá nhân kinh doanh hàng hóa; dịch vụ. Tổ chức; cá nhân kinh doanh hàng hóa; dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại; theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; b) Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp; giao nộp được cho Tòa án tài liệu; chứng cứ vì lý do tài liệu; chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý; lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp; giao nộp tài liệu; chứng cứ đó cho Tòa án. Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động; c) Các trường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập; cung cấp; giao nộp cho Tòa án tài liệu; chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.
Cơ quan; tổ chức; cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng; lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lợi ích hợp pháp của người khác phải thu thập; cung cấp; giao nộp cho Tòa án tài liệu; chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện; yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức; cá nhân kinh doanh hàng hóa; dịch vụ theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc [30, Điều 91]. Ngoài ra, cần phân định ranh giới giữa nghĩa vụ chứng minh và trách nhiệm chứng minh trong tố tụng dân sự.
Tại khoản 2 Điều 85 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS 2011) (có hiệu lực từ 01/01/2012) đã ghi nhận: Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp để thu thập tài liệu, chứng cứ. Như vậy, so với khoản 2 Điều 85 của BLTTDS năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS 2011 hoặc tại Điều 97 BLTTDS 2015 đã bỏ quy định: Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ. Việc bỏ quy định đương sự không thể tự mình thu thập chứng cứ và có yêu cầu mới là điều kiện để Tòa án thu thập chứng cứ, đặt ra những vấn đề tranh cãi cần thống nhất về cách hiểu khi áp dụng trong thực tiễn xét xử liên quan đến quan niệm về nghĩa vụ chứng minh hay trách nhiệm chứng minh của Tòa án (TA), Viện kiểm sát (VKS). Theo đó nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự là của các đương sự; Tòa án và Viện kiểm sát không có nghĩa vụ chứng minh chỉ có trách nhiệm chứng minh.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ đó, nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự có thể được hiểu: Thứ nhất, về nguyên tắc, “nghĩa vụ” là việc phải làm. Đương sự có nghĩa vụ chứng minh có nghĩa là đương sự phải thực hiện hoạt động chứng minh. Điều này không có nghĩa là tất cả các đương sự đều phải thực hiện hoạt động chứng minh. Như khi cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ quyền, lợi ích của cá nhân khác thì tư cách đương sự thuộc về người được khởi kiện nhưng họ không bắt buộc phải chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình là có căn cứ mà nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan, tổ chức đã khởi kiện, bị đơn cũng không bắt buộc phải chứng minh… nghĩa vụ chứng minh nói một cách tổng quát nhất là thuộc về phía đương sự đã đưa ra yêu cầu.
Thuật ngữ “yêu cầu” ở đây đã được sử dụng theo nghĩa rộng bao gồm cả yêu cầu về sự công nhận là đúng, là có lý và cả yêu cầu công nhận là không đúng, không có lý hay nói cách khác yêu cầu ở đây chính là đề ra đối tượng chứng minh. Nội dung đối tượng chứng minh thuộc về phía đương sự bao gồm thỉnh cầu và kháng biện. Trong thỉnh cầu có thỉnh cầu ban đầu (đơn khởi tố), thỉnh cầu bổ sung (bổ sung yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ việc), thỉnh cầu phản tố (đòi hỏi công nhận lợi ích của bị đơn) và thỉnh cầu dự sự (đòi hỏi của người thứ ba về việc tham gia vụ án). Kháng biện bao gồm kháng biện về nội dung (là sự phủ nhận của bị đơn), khước biện (bị đơn cho rằng không đúng thủ tục) và kháng chấp (bị đơn cho rằng nguyên đơn không có quyền kiện họ: ví dụ như không có tư cách hoặc kiện ở tòa không có thẩm quyền).
Khi nguyên đơn đưa ra yêu cầu bằng cách khởi kiện thì họ có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, bị đơn đưa ra yêu cầu bác bỏ ý kiến của nguyên đơn thì họ có nghĩa vụ chứng minh cho việc bác bỏ đó là có căn cứ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi đưa ra yêu cầu cũng phải chứng minh… nguyên tắc này thống nhất với nguyên tắc về quyền tự định đoạt của đương sự, quyền và lợi ích của họ phải do chính họ quyết định. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ hai, đồng thời với việc phải làm thì nghĩa vụ còn mang lại một hậu quả pháp lý. Hậu quả pháp lý này là việc được tòa án công nhận các quyền và lợi ích hợp pháp khi đương sự thực hiện một cách đầy đủ và chính xác nghĩa vụ chứng minh. Ngược lại, khi đương sự không thực hiện hoặc thực hiện một cách không đầy đủ nghĩa vụ chứng minh thì yêu cầu đưa ra sẽ không được chấp nhận và sẽ phải chịu “hậu quả”.
Không loại trừ trường hợp người đưa ra yêu cầu không thực hiện nghĩa vụ chứng minh nhưng hậu quả pháp lý mang lại không phải là một hậu quả bất lợi như khi bị đơn phản đối yêu cầu của nguyên đơn lại không thực hiện nghĩa vụ chứng minh mà chỉ “chối dài” nhưng phản đối đó vẫn được chấp nhận, trường hợp này phải thấy được rằng hậu quả bất lợi ở đây đã thuộc về phía nguyên đơn vì họ đã không thực hiện được nghĩa vụ chứng minh của mình nên đã không được công nhận quyền và lợi ích. * Ý nghĩa của nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự Có thể khẳng định, nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự có tính chất quyết định để làm rõ các vấn đề cần chứng minh trong việc giải quyết vụ việc dân sự. Để đảm bảo giải quyết vụ việc dân sự diễn ra đúng đắn và hợp pháp, pháp luật quy định nghĩa vụ chứng minh đối với các chủ thể trong vụ án dân sự. Bởi lẽ, chỉ thông qua hoạt động chứng minh thì các chủ thể chứng minh mới có thể yêu cầu hoặc đưa ra sự phản bác của mình đúng quy định của pháp luật để làm sáng tỏ, giải quyết nhanh chóng, đúng đắn và chính xác vụ án hơn đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đúng pháp luật.
Đặc điểm của nghĩa vụ chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự Chứng minh trong tố tụng là một quá trình gồm thu thập, cung cấp, sử dụng chứng cứ nhằm làm sáng tỏ cơ sở pháp lý cũng như cơ sở thực tế các yêu cầu của các bên trong vụ án.