phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chƣơng với kết cấu nhƣ sau: Chƣơng 1: Lý luận chung về nghĩa vụ cấp dƣỡng theo Luật Hôn nhân và gia đình Chƣơng 2: Nghĩa vụ cấp dƣỡng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Chƣơng 3: Thực tiễn thực thi nghĩa vụ cấp dƣỡng và những hạn chế trong áp dụng pháp luật hiện hành về nghĩa vụ cấp dƣỡng cùng những khuyến nghị cụ thể 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CẤP DƢỠNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1. Lịch sử phát triển của nghĩa vụ cấp dƣỡng 1. Nghĩa vụ cấp dưỡng trong pháp luật Việt Nam trước năm 1959 Nhà nƣớc quản lý xã hội bằng luật pháp, sức mạnh của nhà nƣớc thể hiện thông qua sức mạnh của pháp luật. Không có nhà nƣớc nào không ban hành pháp luật.
Ngƣợc lại, luật pháp do nhà nƣớc đặt ra, luật pháp không đứng tách rời với nhà nƣớc. Khi nói về luật pháp là nói về luật pháp của thể chế nhà nƣớc nhất định nào đó. Do đó, trong mỗi thời kỳ khác nhau của lịch sử, pháp luật đều luôn có sự thay đổi phù hợp với sự biến đổi của xã hội. Từ thời nhà Lý và nhà Trần, nền luật pháp đã phát triển hơn nhiều so với các triều đại trƣớc đó, phải kể đến các bộ luật nhƣ: Hình - Thƣ (năm Nhâm Ngọ - 1042), Quốc triều thông chế (năm Canh Dần - 1230) và Hình Luật thƣ (năm Tân Tỵ - 1341).
Tuy nhiên, các đạo luật này đã bị thất lạc trong các cuộc chiến chống xâm lƣợc phƣơng Bắc. Tiêu biểu cho pháp luật thời phong kiến còn lại cho đến ngày nay là các đạo luật đƣợc ban hành dƣới triều Lê và triều Nguyễn. Trong đó, dƣới triều Lê, một số văn bản pháp luật còn đƣợc giữ lại là Quốc triều hình luật (ban hành vào khoảng cuối thế kỉ thứ 15 dƣới đời vua Lê Thánh Tông), Hồng Đức thiện chính thƣ (ghi chép lại nhiều điều lệ đƣợc ban hành dƣới triều vua Lê Thánh Tông cùng nhiều bản án thời kì đó), Thiên nam dƣ hạ tập (năm 1483). và dƣới triều Nguyễn có Hoàng Việt luật lệ ban hành dƣới đời vua Gia Long (năm 1815).
Trong các đạo luật kể trên, vấn đề cấp dƣỡng đã đƣợc tiếp cận nhƣng mới chỉ ở bƣớc sơ khai. Dƣới triều Lê, nho học đang ở giai đoạn thịnh vƣợng nhất, Nho giáo đƣợc đề cao nhƣ hệ tƣ tƣởng chính thống của Nhà nƣớc. Do đó, pháp luật thời kỳ này chịu ảnh hƣởng sâu sắc tƣ tƣởng của Khổng Tử và Mạnh Tử. Các quan hệ gia đình đƣợc Nho giáo coi trọng, các quy định của pháp luật về gia 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đình liên quan mật thiết đến quyền lợi của quốc gia.
Nhà sử học Ngô Sĩ Liên đã khẳng định: “Vua tôi, cha con, vợ chồng là ba cƣơng lớn trong đạo luân lý của ngƣời, ngoài ra không có gì lớn hơn” [16, tr. Trên nền tƣ tƣởng đó, trong sách Hồng Đức thiện chính thƣ đã ghi rõ: “Làm ngƣời phải coi trọng sự giáo dƣỡng, cha hiền con hiếu làm đầu. Làm cha mẹ ngƣời ta, phải cấp dƣỡng cho cơm áo, không nên vì đứa con một buổi sớm dỗi không ăn, mà cha mẹ giận đổ bỏ đi” hay “Làm ngƣời con thì phải kính nuôi cha mẹ, không đƣợc hiềm vì nỗi nghèo khó mà để đến nỗi bội nghĩa cha mẹ. Trái lệnh thì phải chiếu pháp luật mà luận tội, để cho đƣợc chọn thâm tình đối với hai thân” [7, Điều 161].
Con cái phải hết sức thành kính, vâng lời và phụng dƣỡng cha mẹ. Đó chính là đạo hiếu, là nhân tố đạo đức cốt lõi của nho giáo. Trong các sắc luật của nhà vua về đạo đức xã hội và gia đình thì sau chữ trung với vua đạo hiếu đứng ở hàng thứ hai. Chính vì vậy mà trong điều thứ hai của Quốc triều hình luật quy định về mƣời tội ác thì trong đó có tội bất hiếu.
Một trong những hành vi của tội bất hiếu là nuôi nấng cha mẹ thiếu thốn hoặc không săn sóc, phụng dƣỡng cha mẹ. Chữ hiếu không bó hẹp trong phạm vi là nghĩa vụ của con đối với cha mẹ mà rộng hơn nữa đó là nghĩa vụ của con cháu đối với bề trên. Quốc triều hình luật đã quy định: "Con cháu trái lời dạy bảo và không phụng dƣỡng bề trên, mà bị ông bà, cha mẹ trình lên quan thì bị xử tội đồ làm khao đinh" [19, Điều 506]. Do chịu sự ảnh hƣởng rất lớn của thuyết nhân trị nên trong Quốc triều hình luật quy định của pháp luật cũng chính là quy tắc đạo đức, đó là sự đan xen giữa đạo đức và pháp luật.
Cha mẹ chăm sóc, nuôi dƣỡng con; con phụng dƣỡng cha mẹ là một nghĩa vụ về đạo đức. Vì vậy, khi nghĩa vụ đó không đƣợc thực hiện một cách tự giác thì pháp luật quy định biện pháp trừng phạt thích đáng. Dƣới triều Nguyễn, nhà Nguyễn rất coi trọng pháp luật. Tuy nhiên, có thể nói rằng đây là thời kì suy thoái của nền pháp lí nƣớc ta.
Các nhà soạn 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thảo pháp luật đã quá tôn sùng nhà Thanh mà sao chép lại hầu nhƣ toàn bộ luật nhà Thanh. Bộ Hoàng Việt luật lệ đƣợc soạn thảo với tinh thần đề cao quyền uy của vua và triều đình cho nên nội dung chủ yếu là hình luật và hình phạt đƣợc quy định hết sức hà khắc. Ngay trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình cũng đƣợc luật quy định dƣới các điều khoản về hình luật. Chẳng hạn nhƣ tại quyển 16 về hình luật, trong mục 15 có quy định: “con cháu vi phạm lời dạy bảo của ông bà, cha mẹ hoặc phụng dƣỡng mà cố ý làm thiếu xót thì phạt 100 trƣợng”.
Trong quyển 2 phần về Danh lệ, tại mục 17 quy định về trƣờng hợp ngƣời phạm tử tội nhƣng còn phải nuôi dƣỡng cha mẹ. Theo quy định này thì nếu một ngƣời phạm tử tội không đƣợc ân xá mà ông bà nội, cha mẹ già (trên 70 tuổi hay bị tàn tật) cần đƣợc săn sóc nhƣng trong gia đình không còn ai từ 16 tuổi trở lên thì pháp quan phải tâu lên vua. Nếu phạm tội đồ lƣu thì xử phạt 100 trƣợng, tội còn thừa thì nhận giá chuộc và cho ở nhà nuôi dƣỡng ông bà, cha mẹ [18, tr. Nhƣ vậy, dù không có điều khoản riêng quy định về nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dƣỡng hoặc phụng dƣỡng giữa các thành viên trong gia đình nhƣng trong Hoàng Việt luật lệ đã gián tiếp khẳng định nghĩa vụ đó.
Trong quan hệ vợ chồng, pháp luật nhà Lê và nhà Nguyễn đều quy định những quyền và nghĩa vụ cơ bản của vợ chồng nhƣ nghĩa vụ đồng cƣ, nghĩa vụ phù trợ, nghĩa vụ trung thành và nghĩa vụ tòng phu. Trong đó, nghĩa vụ phù trợ thực chất chính là nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc về mặt vật chất giữa vợ và chồng. Mặc dù vợ chồng có nghĩa vụ phù trợ lẫn nhau nhƣng pháp luật thời kì này không quy định nghĩa vụ cấp dƣỡng giữa vợ và chồng khi li hôn. Bởi lẽ, khi li hôn, ngƣời vợ chuyển về nƣơng tựa gia đình cha mẹ đẻ của mình nên vấn đề ngƣời vợ có thể gặp khó khăn trong cuộc sống không cần phải đặt ra.
Trong trƣờng hợp, ngƣời vợ không còn nơi nƣơng tựa nào thì ngƣời chồng không đƣợc bỏ vợ vì điều này thuộc một trong ba trƣờng hợp bất khứ là “hữu 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sở thú, vô sở quy” (có chỗ nƣơng tựa lúc đi lấy chồng, bây giờ không có chỗ trở về). Tuy nhiên, trong trƣờng hợp li hôn (mà không phải là trƣờng hợp rẫy vợ), quyền lợi của ngƣời vợ đƣợc bảo đảm hơn. Họ có thể sẽ đƣợc ngƣời chồng cấp dƣỡng nếu thắng kiện [14, tr. Ngoài nghĩa vụ phù trợ, pháp luật thời kỳ này quy định vợ chồng có nghĩa vụ đồng cƣ.
Khi ngƣời vợ sinh con, đứa con đƣợc sống chung với cha mẹ và đƣợc cha mẹ chăm sóc nuôi dƣỡng. Khi ly hôn, con cái thƣờng thuộc về chồng, nhƣng nếu muốn giữ con ngƣời vợ có quyền đòi chia một nửa số con. Trong trƣờng hợp các con đƣợc ở lại với cha, tất cả tài sản đƣợc coi là tài sản riêng của ngƣời mẹ đƣợc gộp vào tài sản của ngƣời chồng thành một khối do ngƣời cha nắm giữ và dùng để nuôi con. Trong trƣờng hợp hai vợ chồng chia nhau nuôi con thì thông thƣờng họ thƣờng chia nhau tài sản.
Vì vậy, vấn đề cấp dƣỡng của cha, mẹ cho con khi ly hôn không cần phải đặt ra. Pháp luật thời kỳ này cũng không cho phép ngƣời con ngoài giá thú đƣợc quyền kiện tìm cha để hƣởng quyền cấp dƣỡng. Do đó, cấp dƣỡng của cha đối với con ngoài giá thú không đƣợc pháp luật quy định. Nhƣ vậy, Pháp luật thời phong kiến quan tâm đặc biệt đối với nghĩa vụ phụng dƣỡng của con, cháu đối với cha mẹ, ông bà.
Pháp luật thời kỳ này quy định nghĩa vụ nuôi dƣỡng mà không quy định nghĩa vụ cấp dƣỡng của cha mẹ đối với con. Bƣớc sang thời kỳ Pháp thuộc, nƣớc ta bị chia làm ba miền: miền Bắc, Miền Trung và miền Nam. Ở miền Bắc có Bộ dân luật Bắc Kỳ 1931, ở miền Trung có Bộ dân luật Trung Kỳ 1936, ở miền Nam có Bộ dân luật giản yếu Nam kỳ năm 1883. Riêng Bộ Dân luật giản yếu chịu nhiều ảnh hƣởng của Bộ dân luật Pháp nên nhìn chung nội dung của nó khác hẳn với tinh thần luật pháp truyền thống của nƣớc ta.
Vấn đề gia đình không đƣợc coi trọng, vấn đề cấp dƣỡng giữa các thành viên trong gia đình hầu nhƣ không đƣợc ghi nhận 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong bộ luật này cho nên quan hệ về gia đình nói chung và quan hệ về cấp dƣỡng nói riêng chủ yếu dựa vào các quy định của hai Bộ dân luật miền Bắc và miền Trung. Pháp luật thời kì này quy định về nghĩa vụ cấp dƣỡng giữa cha mẹ và con, giữa vợ và chồng và giữa các thành viên trong gia đình một cách rõ nét hơn so với pháp luật thời kì phong kiến. Trong quan hệ giữa cha mẹ và con, pháp luật quy định cha mẹ có nghĩa vụ nuôi nấng, cƣu mang con. Điều đó thể hiện trong quy định về nghĩa vụ vợ chồng tại Điều 91 Bộ dân luật Bắc Kỳ và Bộ dân luật Trung Kỳ: “Vợ chồng phải cùng nhau làm cho gia đình hưng thịnh và lo toan việc nuôi nấng, dạy dỗ con cái”.