phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo gồm có 3 chương: Chƣơng I: Cơ sở lí thuyết chung về hành động nói năng Trong chương này, luận văn trình bày những vấn đề lí thuyết cơ bản có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài. Đó là các vấn đề: Lí thuyết trường nghĩa, phương pháp phân tích nghĩa tố, phương pháp so sánh đối chiếu, thủ pháp thống kê ngôn ngữ học, phương pháp miêu tả. Trong đó, phương pháp phân tích nghĩa tố là phương pháp rất quan trọng nhằm thiết lập những cơ sở, những căn cứ cho việc giải TIEU LUAN MOI download 12: skknchat@gmail.com thích các nghĩa tố khác nhau của từng từ ngữ một cách thống nhất, chính xác, hợp lí và khoa học. Chƣơng 2: Cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ hành động nói năng speak, say, tell, talk trong tiếng Anh Trong chương này, chúng tôi sử dụng Từ điển giải thích Anh – Anh để làm cơ sở chiết xuất, tìm ra nghĩa tố của 4 từ Speak, tell, talk, say chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh thỏa mãn mô hình (A nói X với B).
Chúng tôi tập trung phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của từng từ trong nhóm và phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của cả nhóm Say, tell, talk, speak; trên cơ sở đó rút ra được những nghĩa tố giống nhau, chung cho 4 từ và những nét khác biệt về ngữ nghĩa của 4 từ trong nhóm chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh cũng như tìm ra được cấu trúc ngữ nghĩa chung cho cả nhóm 4 từ chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh. Chƣơng 3: Các đơn vị từ vựng trong tiếng Việt tƣơng ứng với Say, Tell, Speak, Talk trong tiếng Anh Ở chương này, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu và thủ pháp thống kê để phân tích, tìm hiểu trong các ngữ cảnh tại sao say, tell, talk, speak lại được giống nhau và dịch khác nhau ở các ngữ cảnh khác. Từ đó, rút ra được những đặc trưng ngữ nghĩa của các đơn vị chỉ hành động nói năng trong tiếng Việt tương ứng với 4 từ say, tell, talk, speak thuộc nhóm từ chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh. TIEU LUAN MOI download 13: skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT CHUNG VỀ HÀNH ĐỘNG NÓI NĂNG 1.1 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu về hành động nói năng Hành động nói năng là một đề tài đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam và nước ngoài.
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về hành động nói năng, tuy nhiên các nghiên cứu nhìn chung mới đề cập đến những vấn đề sau: Thế giới: Ban đầu, động từ nói năng không được xem xét như là một đối tượng riêng biệt, do vậy đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của nó chưa thực sự được làm sáng tỏ. Khi động từ nói năng được xem xét trong một quá trình biệt loại là quá trình nói năng (verbal process); đã có nhiều kiến giải rất quan trọng về nhóm vị từ này, đặc biệt là những quan điểm liên quan đến lời dẫn ở dạng trực tiếp (quoted speech) và gián tiếp (reported speech). Vị từ nói năng được nhìn nhận ở góc độ “nói tức là hành động”, nghĩa là nó được khảo sát với tư cách một vị từ ngôn hành. Việt Nam: Các công trình thực sự đi sâu chuyên nghiên cứu về động từ nói năng chưa nhiều.
Chưa có công trình nào nghiên cứu về kết cấu ngữ nghĩa của nhóm các từ chỉ hành động nói năng speak, say, tell, talk trong tiếng Anh và các đơn vị tương ứng trong tiếng Việt. Vị từ nói năng được nghiên cứu khá kĩ lưỡng nhưng dưới góc độ dụng học, đặc biệt là lí thuyết hành động ngôn từ. Vị từ nói năng còn được nghiên cứu dưới góc độ nghĩa học, nghĩa là, vị từ nói năng có 2 diễn tố là Tác thể (người nói) và tác tạo thể (điều được nói). TIEU LUAN MOI download 14: skknchat@gmail.com Mới đây nhất là công trình nghiên cứu của Nguyễn Vân Phổ về động từ nói năng, ông tập trung làm sáng tỏ những quan hệ ngữ nghĩa và ngữ pháp giữa vị từ nói năng và các tham tố có thể có xung quanh nó.1 Tiếng Anh Vị từ chỉ hành động nói năng tiếng Anh khá phong phú về số lượng và cũng thu hút được đông đảo sự quan tâm nghiên cứu của các nhà ngữ học cũng như các nhà triết học.
“Wierzbicka bàn nhiều về vị từ nói năng, tuy nhiên các phân tích của tác giả thiên về khía cạnh ngữ nghĩa từ vựng hơn là ngữ nghĩa cú pháp. Trong chuyên khảo “English speech act verbs, a semantic dictionary” (1987), bà đã tập hợp 234 từ liên quan đến hoạt động nói năng thành 37 nhóm và đi vào miêu tả ngữ nghĩa của chúng. Tuy nhiên, mục tiêu của tác giả là một từ điển ngữ nghĩa nên sự phân biệt hết sức tinh tế mà tác giả miêu tả được (chủ yếu) vẫn là sự phân biệt nghĩa từ vựng. Hơn nữa, trong khi đề cập nghĩa của từng từ, tác giả không miêu tả cấu trúc nghĩa theo các tham tố và các dấu hiệu có liên quan mà sử dụng một thứ siêu ngôn ngữ (tác giả dùng khoảng hơn 150 từ chọn lọc để miêu tả toàn bộ đối tượng) (Wierzbicka 1987, Dẫn theo Nguyễn Vân Phổ, Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt, Nxb ĐH Quốc Gia TP.
Theo đó, vị từ nói năng được nhắc đến trong các mục như vị từ với đối tượng có hướng (abstract directional object), vị từ với đối tượng tặng thể-lợi thể gián tiếp (dative-benefactive directional object), vị từ nhận thức và phát ngôn (cognition and utterance verbs), vị từ cầu khiến (manipulative verbs), vị từ thông tin (information verbs). Sở dĩ vị từ nói năng được trình bày ở nhiều mục rời rạc như vậy là vì tác giả không xem xét nhóm vị từ này như một đối tượng riêng biệt mà chỉ khảo sát các biểu hiện của nó trong tương quan với các vị từ khác. Tuy nhiên, nhìn chung quan điểm của tác giả vẫn có sức thuyết phục; đặc biệt là quan điểm cho rằng một vị từ có thể thuộc về “nhiều hơn một lớp”, vì các lớp từ phân biệt với nhau không chỉ về cú pháp mà còn phân biệt TIEU LUAN MOI download 15: skknchat@gmail.com về ngữ nghĩa. Tư cách đôi (double membership), và thậm chí ba (triple membership) này là một hiện tượng có thể thấy ở nhiều ngôn ngữ trên thế giới (cross-linguistically) (Givón 1984, 64, Dẫn theo Nguyễn Vân Phổ, Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt, Nxb ĐH Quốc Gia TP.HCM, 2011) Các tác giả như Postal Paul, Petruck Miriam (1996), Baker Colin (1998), và đặc biệt là Filmore (1971, 2001) và Halliday (1994) bàn nhiều đến cấu trúc tham tố của vị từ nói năng, tuy không tác giả nào nghiên cứu nó với tư cách một đối tượng của một chuyên khảo.
Riêng Halliday đã xem xét vị từ nói năng trong một quá trình biệt loại là quá trình nói năng (verbal process); do vậy ông đã đưa ra nhiều kiến giải rất quan trọng về nhóm vị từ này, đặc biệt là những quan điểm liên quan đến lời dẫn ở dạng trực tiếp (quoted speech) và gián tiếp (reported speech). (Dẫn theo Nguyễn Vân Phổ, Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt, Nxb ĐH Quốc Gia TP.HCM, 2011) Từ những năm 1960 trở đi, đặc biệt từ sau công trình “How to do things with words” của Austin (1962), vị từ nói năng được nhìn nhận ở góc độ “nói tức là hành động”, nghĩa là nó được khảo sát với tư cách một vị từ ngôn hành (performative verb). Hàng loạt nhà nghiên cứu như Searl (1960, 1976), Grice (1975, 1978), Yule (1996), Wilson Deirde và Sperber Dan (2000, 2002),… nghiên cứu các hành động ngôn từ trong mối liên quan với quá trình nói năng nói chung và vị từ nói năng nói riêng. Các tác giả như David Donal (1968), Zwicky A.
(1981), David Bzaril (1995), Toolan Michael (2001),… lại bàn nhiều về vai trò của người đưa ra phát ngôn, về lời dẫn trực tiếp và gián tiếp, về quy chiếu trong lời dẫn với nhiều quan điểm khác nhau, đôi khi những quan điểm đó là những biện giải có tính triết học và logic học nhiều hơn là ngôn ngữ học. Ngoài ra, trong các công trình nghiên cứu cấu trúc ngữ pháp hay ngữ nghĩa của nhiêu tác giả khác, chẳng hạn như Anderson J. (1979), Robyn Carston (1997),… đều có ít nhiều để cập đến vị từ nói năng nhưng không xem xét nó như là một đối tượng riêng biệt, do vậy đặc điểm ngữ pháp và TIEU LUAN MOI download 16: skknchat@gmail.com ngữ nghĩa của nó chưa thực sự được làm sáng tỏ.” (Dẫn theo Nguyễn Vân Phổ, Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt, Nxb ĐH Quốc Gia TP.2 Tiếng Việt Vị từ nói năng hầu hết được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu ngữ pháp. Trong công trình nghiên cứu mới nhất của Nguyễn Vân Phổ, căn cứ vào hướng tiếp cận của các tác giả từ trước đến nay, có thể chia các công trình nghiên cứu có đề cập đến vị từ nói năng thành 3 nhóm (Dẫn theo Nguyễn Vân Phổ, Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt, Nxb ĐH Quốc Gia TP.HCM, 2011): ―Các tác giả: Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê (1963); Nguyễn Kim Thản (1977, 1997); Hoàng Trọng Phiến (1980), Hồ Lê (1992);… Trong công trình của mình khi bàn về ngữ pháp tiếng Việt nói chung hoặc động từ tiếng Việt nói riêng, các tác giả này thường coi vị từ nói năng là nhóm vị từ có bổ ngữ là một cấu trúc chủ-vị (“cụm từ tường thuật”), có thể có hoặc không có kết từ là/rằng dẫn nhập, bỏ ngữ đó có thể là danh từ/danh ngữ, nhưng khả năng này không phải là tiêu biểu.
Như vậy, vị từ nói năng được xem xét rất sơ lược về mặt cấu trúc mà chưa phân tích nhiều về mặt ngữ nghĩa. Chính vì vậy, các vị từ nói năng thường được xếp vào cùng nhóm với các vị từ cảm nghĩ. Các tác giả: Phạm Thị Hòa (2000); Đỗ Hữu Châu (2001, 2003);… Các tác giả này xem xét vị từ nói năng khá kĩ lưỡng nhưng dưới góc độ dụng học, đặc biệt là lí thuyết hành động ngôn từ. Chính từ góc nhìn này, Đỗ Hữu Châu đã thấy cần phải khảo sát vị từ nói năng trong quá trình nói năng, và đó cũng là cơ sỏ để tác giả đi từ vị từ nói năng đến các “biểu thức ngữ vi” của nó.
Đỗ Hữu Châu là người đầu tiên cho rằng cần biệt lập vị từ nói năng với các nhóm vị từ khác để có thể nghiên cứu thấu đáo hơn. Tuy nhiên, trong công trình của ông (Đỗ Hữu Châu 2001), vấn đề cấu trúc tham tố của vị từ vẫn chưa được đề cập.