Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NGHỆ THUẬT TUỒNG ĐÀO TẤN 1. Tuồng Tuồng còn gọi là Hát bội hay Hát bộ, là loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống của Việt Nam, được hình thành trên cơ sở ca vũ nhạc và các trò diễn xướng dân gian kết hợp sự giao lưu với văn hóa Trung Hoa. Vào cuối thế kỷ XVIII, Tuồng đã phát triển một cách hoàn chỉnh từ kịch bản văn học đến nghệ thuật biểu diễn. Dưới triều Nguyễn, Tuồng có vị trí quan trọng trong sinh hoạt văn nghệ ở cung đình, thậm chí trở thành quốc kịch dưới triều vua Tự Đức.
Trong thế kỷ XIX, Tuồng đã có giai đoạn phát triển cực thịnh trong lịch sử hình thành và phát triển. Tuồng mang đậm âm hưởng hùng tráng với những tấm gương tận trung báo quốc, xả thân vì đại nghĩa, những bài học về đạo lý, khí tiết của người anh hùng trong các hoàn cảnh đầy mâu thuẫn và xung đột. Chính vì vậy, chất bi hùng là một đặc trưng thẩm mỹ độc đáo của Tuồng. “Bi” trong Tuồng đạt tới mức tột cùng của sự đau thương mất mát, “hùng” đạt đến đỉnh điểm của sự hoành tráng, oai nghiêm.
Tuồng chú trọng lột tả cái thần. Tả thần làm bật lên cái cốt lõi cơ bản, không đi sâu vào những chi tiết vụn vặt. Ðể làm được điều đó, Tuồng dùng thủ pháp khoa trương cách điệu. Tất cả những lời nói, động tác hình thể sự đi lại trên sân khấu Tuồng đều được khoa trương và cách điệu để trở thành những điệu hát, điệu múa có nguyên tắc và niêm luật cụ thể.
Ðặc trưng của khoa trương cách điệu còn được thể hiện trong Âm nhạc, hoá trang, mặt nạ. Tuồng dùng thủ pháp ước lệ tượng trưng, đây là hình thức lấy chi tiết để thay cho toàn thể tất cả mọi sự vật hiện tượng. Chẳng hạn như: chiếc roi ngựa thay thế cho một con ngựa, mái chèo thay cho con thuyền, vài người lính thay thế cho cả một đội quân, một vòng đi quanh sân khấu thay cho vạn 8 dặm đường trường,… Do đó, người ta nói sân khấu Tuồng là không gian giàu sức gợi cảm và tưởng tượng. Tuồng có hai loại: Tuồng Thầy và Tuồng Đồ.
Tuồng Thầy hay còn gọi là Tuồng Pho, là những vở Tuồng chính kịch, lấy sự tích kinh điển từ trong sử sách và trong giả sử để phóng tác và viết ra như: Phụng Nghi đình, Sơn hậu, Tam Quốc Chí, Vạn Hoa Lầu, Ngũ Hổ Bình Tây, v.v… Văn chương ở đây là văn chương bác học, Tuồng tích có sẵn trong sách nên người xem phần lớn đều hiểu biết rõ kịch bản và đến rạp chỉ xem diễn xuất của nghệ sĩ. Tuồng Đồ là những vở Tuồng được viết bằng chữ Nôm hay Quốc ngữ, nội dung lấy từ những sự tích văn chương trong văn học Việt Nam rồi cải biên thành Tuồng. Tuồng Đồ nặng về giải trí, giàu tính hài hước nên đáp ứng đông đảo thị hiếu và trình độ thưởng ngoạn của người bình dân. Ngoài ra thì có Tuồng hài với cốt truyện tự do hơn, không nhất thiết đề cao đạo lý đạo lý tam cương ngũ thường như Tuồng Pho.
Ví dụ như các Tuồng: Nghêu sò ốc hến, Trần Bồ, Trinh thử, v. Làn điệu Tuồng Nhà nghiên cứu Nguyễn Thụy Loan cho rằng: Làn điệu là cách gọi truyền thống của người Việt để chỉ loại cấu trúc giai điệu bán ổn định, trong đó có những phần cứng (không thay đổi) và những phần mềm (có thể thay đổi). Phần cứng giúp cho người nghe nhận diện được giai điệu thuộc làn điệu nào, phần mềm với những thay đổi đa dạng đó là dị bản của cùng một giai điệu rất khác nhau, thậm chí có khi khó có thể nhận ra [23, tr. Theo tác giả, làn điệu là một thuật ngữ dùng trong âm nhạc dân gian và âm nhạc truyền thống để gọi tên một điệu hát, điệu hát đó có mang đặc trưng riêng của từng địa phương và có những cấu trúc, hệ thống và tiêu chí cụ thể khi diễn xướng.
9 Làn điệu hát Tuồng rất phong phú và đa dạng. Một số làn điệu chính trong Tuồng Đào Tấn: Hát Khách, Hát Nam. Làn điệu Hát Khách Hát Khách (còn gọi là hát Bắc, hát Phú lục, Bắc xướng) là một trong những làn điệu diễn tả được nhiều cung bậc tình cảm trong sâu khấu Tuồng. Hát Khách là loại làn điệu thường cấu trúc theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.
Tức là mỗi vế đều có 7 chữ mà người ta thường gọi là khách thơ và có loại văn phú lục từ 11 chữ trở lên người ta gọi là thể phú. Hát Khách thường mang tính chất hùng hồn, mạnh mẽ, khoan thai, vui vẻ. Tuy nhiên cũng có trường hợp uất ức vì số phận bị vu oan, hay chán đời tự vận hoặc ly biệt cũng có thể Hát Khách [2, tr. Ví dụ Trích đoạn Hát Khách (do nhà nghiên cứu Lê Yên ký âm): 10 Hát Khách được chia ra làm nhiều loại như sau: - Hát Khách thường bao gồm các loại như: Khách hành binh hùng hồn, tiết tấu nhanh và áp dụng trong hoàn cảnh gấp rút; Khách tửu mang tính nhàn hạ, vui vẻ, tiết tấu chậm hơn và được dùng trong lúc anh em chén tạc, chén thù; Khách tẩu mang tính vội vàng và gấp rút, tiết tấu nhanh và thường dùng trong trường hợp báo việc gấp; Khách thán mang tính ai oán, uất ức, tiết tấu chậm và sử dụng trong trường hợp bị oan ức, nhưng lại tỏ ra cương trực.
- Khách phú lục: mang tính chất hữu tình và dùng trong trường hợp du ngoạn, vui chơi để thưởng thức cảnh vật thiên nhiên. Phần nhiều là áp dụng cho các nhân vật tiên nữ, đào, hoặc kép đi chơi, v. tiết tấu thong thả. - Khách hồn: mang tính chất yểu, chập chờn vì là hồn ma và thường được sử dụng cho những người trung không may bị tử vong.
Khi chồng, vợ, bè bạn hay tôi chúa bị lâm nguy thì hồn người chết hiện lên báo tin hoặc cứu giúp để người đó thoát vòng tai nạn. Làn điệu Hát Nam Hát Nam được dùng khi tình cảm của nhân vật lên tới cao trào trong tình huống kịch. Tuồng xưa chia Hát Nam ra làm ba loại chính: nam xuân mang tính chất vui tươi, ngược lại nam ai nghe sầu thảm, nam xuân nữ là buồn man mác. Người diễn viên khi Hát Nam được tự do thể hiện cảm xúc của mình, không bị gò bó về nhịp phách như Hát Khách.
Dựa trên sự cấu trúc của thể thơ song thất lục bát hoặc lục bát phá thể đối với Hát Nam, cộng với sự sáng tạo của các nhạc công về tiết tấu, do đó đã biểu hiện được các tình huống vui tươi, buồn bã hay đau thương. Tuy tỷ lệ Hát Nam so với Nói Lối thì rất hạn chế nhưng Hát Nam là loại làn điệu chủ yếu trong nghệ thuật Tuồng và nó không thể thiếu được trong bất kỳ vở Tuồng nào [2, tr. Ví dụ Trích đoạn Hát Nam (do nhà nghiên cứu Lê Yên ký âm): 11 Các làn điệu Hát Nam: - Điệu nam bình: Điệu nam bình mang tính chất vui tươi. Tiết tấu thư dãn và thường được sử dụng đối với các nhân vật như văn nhân, trí sỹ.
và thường được áp dụng trong hoàn cảnh yên bình: tự sự đời tư, tả chuyện hành trình, bộc lộ ý chí và hoài bão trong tiền đồ, sự nghiệp, thỏa mãn với thành tích đã đạt được hay hứa hẹn khi tiễn biệt nhau. - Điệu Hát Nam ai: Điệu Hát Nam ai mang tính chất sầu thảm, bi ai, diễn tả đến tận cùng của sự đau xót, gợi lên một không khí buồn bã, thê lương. Tiết tấu chậm, nhưng không phải rề rà. Điệu Nam ai thường được sử dụng trong những hoàn cảnh như các nhân vật phải xa lìa nhau, ra đi không hẹn ngày tái ngộ hay đau xót vì tử biệt sinh ly.
Biểu diễn Tuồng Sự kết hợp tổng thể các yếu tố hát, múa, diễn xuất, âm nhạc tạo nên cảm xúc mạnh mẽ đối với người xem, nhờ đó họ cảm nhận được sự tinh tế trong nghệ thuật biểu diễn của người nghệ sỹ Tuồng. Hát Tuồng Là loại hình sân khấu ca kịch, hát được xem là quan trọng trong Tuồng. Ngoài việc chuyển tải nội dung, hát là cách giải quyết tối ưu nhất trong các lớp mà trạng thái tâm lý nhân vật được đẩy tới đỉnh điểm. Ngữ khí trong hát Tuồng được xem là yếu tố quan trọng làm nên phong cách riêng của Tuồng, mang kỹ thuật vận khí từ nội lực của giọng thật.
Ngữ khí phát ra khác với nói thường, nói vận khí sẽ tạo ra âm vang khác lạ. Trong khi học cách phát âm, nhả chữ, nhấn nhá, người hát phải luôn tuân thủ luật hát rất nghiêm ngặt. Tuồng sử dụng cách ém hơi vận khí độc đáo, lấy hơi sâu ở bụng, sau đó từ từ vận khí giữ cột hơi đưa âm từ thanh quản và kéo nguyên khí ra ngoài vòm miệng để phát âm to dài, vang khỏe. Vận dụng ngữ khí và ngữ điệu là kỹ thuật hàng đầu trong việc thể hiện bất kỳ loại tình cảm nào hoặc tình huống nào trong Tuồng.
Nếu ta biết vận dụng hợp lý thì nó sẽ đem lại hiệu quả tốt nhất về mặt biểu hiện hình tượng trong ngôn ngữ. Ví dụ: SƠN HẬU (Trích) Nghệ nhân: Lệ Quyên Ký âm: Hà Thị Thanh Xuân 13 Vậy hát sao cho ra bơ thờ, biểu hiện thế nào cho ra được sững sỡ, đó chính là vận dụng ngữ khí và ngữ điệu của người diễn viên. Vì thế không đơn thuần hát cho người ta nghe mà phải hát để cho người ta thấy được tiếng lòng nhân vật. Ví dụ một câu nam khác: Bảy chục ư hư thân già chi sá ư hư.
Nghiến răng cười ha hả ư hư trời ứ ư ơi ư ừ Tiếng cười trong câu Hát Nam trên đây không phải là tiếng cười sảng khoái mà là tiếng cười trong đau xót, tiếng cười trong sự uất hận, căm thù. Do đó, muốn biểu hiện được tâm trạng tính cách của nhân vật, diễn viên phải vận dụng ngữ khí và ngữ điệu và đấy cũng chính là kỹ thuật Hát Nam. Hát được đã khó mà hát để cho hay lại càng khó hơn. Nó khó bởi vì muốn hát được thì phải có giọng khỏe, cao, vang và ngân dài như chuông.
Sau điều kiện trời phú cho giọng tốt phải nắm được kỹ thuật, luyến láy và hát nhịp nhàng theo phách trống. Diễn viên hát Tuồng phải phát âm chính xác các dấu, rõ tiếng, không bị biến âm, không nói ngọng. Hát phải đúng cao độ trường độ và thể hiện tốt tình cảm của lời ca. Vì vậy, diễn viên phải rèn luyện các kỹ thuật hát như một trong những phương thức nghệ thuật tinh tế nhằm biểu hiện cảm xúc của nhân vật đến với người thưởng thức.