phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của sáng kiến được triển khai trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Một số giải pháp giáo dục ý thức giữ gìn di sản văn hóa Ca trù cho học sinh THPT qua dạy học văn bản Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm 3 skkn PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể Theo “ Công ước bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể” được UNESCO thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2003 và Việt Nam cam kết thực hiện từ ngày 20 tháng 9 năm 2005, di sản văn hóa phi vật thể (DSVHPVT) được hiểu là “ các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng- cũng như những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan- mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần DSVH của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, DSVHPVT được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường, với mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người” Tại Điều 4, Mục 1, Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-VPQH, ngày 23 tháng 7 năm 2013, “Luật DSVH” do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành, DSVHPVT là “ sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”. DSVH phi vật thể (những sản phẩm tinh thần có giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác).
Ca trù là DSVH phi vật thể, được bắt nguồn từ dân ca, dân nhạc, một số trò diễn và múa dân gian. Xuất hiện sơ khai vào đầu thế kỷ XI, bắt đầu thịnh hành trong nước từ thế kỷ 15 nhưng đến nửa cuối thế kỷ XX, Ca trù mới được thế giới biết đến lần đầu tiên qua tiếng hát của nghệ nhân Quách Thị Hồ (1909 - 2001). Từ đó, Ca trù còn được nhiều nhạc sĩ, nhạc học gia nước ngoài theo học, tìm hiểu, nghiên cứu và giới thiệu tại nhiều trường Đại học trên thế giới. Ca trù hiện có ở 14 tỉnh, thành trong cả nước.
Hát Ca trù có 5 không gian trình diễn chính: hát cửa đình (hát thờ), hát cửa quyền (cung đình, chúc hỗ), hát tại gia (nhà tơ), hát thi và hát ca quán (hát chơi). 4 skkn Mỗi không gian có lối hát và cách trình diễn riêng. Ca trù xưa được tổ chức chặt chẽ thành phường, giáo phường, do trùm phường và quản giáp quản lý. Ca trù có qui định về truyền nghề, cách học đàn, hát, cho đào nương vào nghề (lễ mở xiêm áo), chọn đào nương đi hát thi,…Tham gia biểu diễn Ca trù có ít nhất 3 người: một nữ ca sĩ gọi là “đào nương, ca nương” hát theo lối nói và gõ phách lấy nhịp; một nam nhạc công gọi là “kép” đệm đàn đáy cho người hát; một người điểm trống chầu gọi là “quan viên”.
Trong đó, ca nương là một trong 3 thành phần quan trọng. Để trở thành một người ca nương được mọi người công nhận, người nghệ sỹ phải trải qua quá trình học hỏi, luyện tập và trau dồi. Trong Ca trù có các thể cách chỉ các làn điệu hát, hình thức diễn xướng múa, diễn, nghi lễ, việc thi cử trong Ca trù. Khi thể cách là làn điệu hát, thì “thể cách” hoàn toàn trùng hợp với “làn điệu” (thể cách Hát nói, Bắc phản,…).
Một điệu có thể là một bài hát nhưng cũng có thể gồm nhiều bài; mỗi bài bao giờ cũng chỉ có một lời ca với tên gọi riêng của nó. Thể cách chỉ một tiết mục múa, diễn xướng hay nghi lễ trong trình diễn Ca trù. Trong nghệ thuật biểu diễn Ca trù, số thể cách có sự thêm bớt thành các biến cách, làm phong phú thêm cho thể cách Ca trù. Tư liệu Hán Nôm hiện đã ghi nhận được 99 thể cách Ca trù chia thành 3 nhóm: nhóm hát thuần túy gồm 66 làn điệu, bao gồm 5 nhóm nhỏ là hát, đọc, nói, ngâm, thổng; nhóm kết hợp hát - múa - diễn gồm 19 thể cách và nhóm nghi lễ, trình diễn nghề trong thi cử gồm 14 thể cách.
Trong Ca trù, thơ giữ một vị trí rất quan trọng. Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc cho rằng hát Ca trù là hát thơ với một hệ bài bản phong phú quy định cho từng lối hát. Lời lẽ, ca từ của Ca trù mang tính uyên bác, ít lời mà nhiều nghĩa, giàu chất thơ, mang nhiều cảm xúc, trầm ngâm, sâu lắng. Kỹ thuật hát rất tinh tế, công phu, đòi hỏi phải nắn nót, trau chuốt từng chữ.
Khi hát, đào nương không cần há to miệng, không đẩy mạnh hơi từ buồng phổi mà ém hơi trong cổ, ậm ự mà lời ca vẫn rõ ràng, tròn vành rõ chữ. Ca trù có nhiều điệu hát, thể hát sử dụng các thể thơ quen thuộc như: lục bát (điệu Bắc phản, Cung bắc, Đại thạch, Hồng hạnh, Thư phòng, Mưỡu,.), song thất lục bát, thơ 7 chữ và 1 câu lục cuối bài, Đường luật, phú, Đường luật trường thiên. Đặc biệt, thể hát nói (thơ 8 chữ) là thể thơ dành riêng cho Ca trù. Cùng với thơ, múa cũng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần tạo nên nét đặc sắc, riêng biệt của nghệ thuật hát Ca trù.
Có nhiều điệu múa được sử dụng trong Ca trù như: múa Bài Bông (hát cửa đình), múa Đại Thạch (hát thờ và hát thi), múa Bỏ Bộ và múa Tứ Linh (hát thờ),.Với những giá trị văn hóa sâu sắc, ngày 01/10/2009, Ca trù của Việt Nam đã chính thức được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại.Việc Ca trù được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp đòi hỏi chúng ta không ngừng gìn giữ, bảo tồn và phát huy để loại hình nghệ thuật này có cơ hội tỏa sáng hơn nữa. Hát nói - bộ phận của nghệ thuật Ca trù Hát nói là thể thơ mà lời của nó có thể được hát lên theo làn điệu dân ca - Ca trù. Trong hát nói có cả hát và nói; lời ca, lời hát xích gần về phía lời nói. Hình thức thể hiện mang phong cách khẩu ngữ nên thường dung dị, dễ hiểu, gần với đời thường.
Vẻ đẹp của thể hát nói là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa vẻ đẹp của âm nhạc và thơ ca. Hát nói với tư cách là ca từ của bộ môn nghệ thuật Ca trù. Trong các thể thơ của Ca trù như: Lục bát, Song thất lục bát,…hát nói là một trong những thể thơ tiêu biểu để lại số lượng tác phẩm lớn và được yêu thích nhất.Hát nói độc đáo không chỉ ở nội dung và hình thức mà còn ở chỗ vừa là một điệu hát của Ca trù vừa là một thể loại văn học. Hát nói có một cấu trúc hoàn chỉnh, ổn định và mang tính đặc thù, khu biệt với các thể thơ khác.
Khác với thơ Đường luật, hát nói là một thể thơ mở, khá tự do về vần nhịp và không hạn định về số câu trong bài và số chữ trong câu. Ngôn từ trong thơ hát có sự pha trộn lời Hán với lời Việt. Cái chính trong hát nói là ở thể thơ điệu nói, không phải thơ hình ảnh. Cái hay của hát nói là giọng điệu “nửa hát, nửa nói, có tính chất kể chuyện”(GS Hà Minh Đức).
Một bài hát nói không phụ thuộc vào bài nhạc nhất định. Nghệ nhân hát nói, khi biểu diễn, hoàn toàn chịu sự chi phối của lời thơ. Thơ hát nói có cấu tạo đặc biệt như vậy là do sự chi phối của chủ thể trữ tình trong bài thơ. Đó là tiếng nói của một con người tài tử thoát vòng cương tỏa, thoát tục lụy, danh lợi nắm lấy phút vui hiện tại.
Chính cảm thức ấy, nhân sinh quan ấy mới tạo thành thể thơ hát nói được. Nội dung “hành lạc” chiếm vị trí đáng kể trong thơ hát nói, chủ thể trữ tình hiện ra qua lời văn nhất quán và xuất hiện giọng điệu khảng khái, ngang tàng, ngạo nghễ, thách thức. Thơ hát nói được sáng tác để hát trong ca quán, trong dinh thự, trong cửa chùa,… với mục đích giải trí nên nghiên cứu văn bản hát nói không thể không đặt nó trong mối liên hệ với âm nhạc hát nói Ca trù. Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ là bài hát nói tiêu biểu mang nét nổi bật của Ca trù.
Văn bản thể hiện rõ những cá tính, phóng cách, lối sống độc đáo của ông Hi Văn. Bài thơ chính là lối sống ngất ngưởng khi làm quan cũng như lúc hưu quan đồng thời thể hiện quan niệm sống phóng khoáng của tác giả. Tầm quan trọng và yêu cầu giáo dục về di sản văn hóa phi vật thể trong giáo dục phổ thông Hướng dẫn số 73/HD-BGDĐT-BVHTTDL ngày 16/01/2013 của liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ văn hóa, thể thao và Du lịch về việc Sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên đã quy định cụ thể việc lồng ghép nội dung dạy học di sản văn hóa vào các môn học, hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông (nội khóa hoặc ngoại khóa), bao gồm những nội dung: Xây dựng kế hoạch và tổ chức dạy học các nội dung liên quan đến di sản và hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu, khai thác các nội dung khác của 6 skkn di sản văn hóa thông qua tư liệu, hiện vật; Lựa chọn hình thức tổ chức dạy học phù hợp: dạy học trên lớp hoặc tổ chức các hoạt động ngoại khóa tại nhà trường; dạy học tại nơi có di sản văn hóa; tổ chức tham quan- trải nghiệm di sản văn hóa; dạy học thông qua các phương tiện truyền thông, đa phương tiện. Hướng dẫn này được thực hiện bởi ngành giáo dục và đào tạo, ngành văn hóa, thể thao và du lịch.