Phần mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ Lục, Nội dung chính của luận văn gồm có 3 chƣơng sau đây: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Thực trạng báo chí Quảng Nam với vấn đề bảo tồn và quảng bá di sản văn hóa phi vật thể ở địa phƣơng Chƣơng 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao hiệu quả của báo chí Quảng Nam với vấn đề bảo tồn và quảng bá di sản văn hóa phi vật thể ở địa phƣơng 11 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Báo chí Trong quá khứ cũng nhƣ trong hiện tại có nhiều học giả nghiên cứu và đƣa ra những khái niệm khác nhau về báo chí dƣới những góc độ khác nhau. Theo triết học cổ đại Hi Lạp: “Sự báo chí từ chữ information có nghĩa là thông tin, thông báo, báo tin, và được hiểu như việc tạo ra hình thái giúp cho sự hiểu biết của con người về thế giới xung quanh đang tồn tại bằng việc lấy hiện thực khách quan để phản ánh một cách liên tục, xuyên suốt trong quan hệ chặt chẽ giữa nhà báo - tác phẩm - công chúng” [41, tr.
Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển ngôn ngữ định nghĩa báo chí gắn liền với truyền thông và đƣợc hiểu theo nghĩa chung nhất và trừu tƣợng nhất là “quá trình chuyển dữ liệu giữa các đơn vị chức năng” [45, tr. Trong Từ điển xã hội học do G. Trommsdorff chủ biên, định nghĩa báo chí truyền thông là “sự tạo ra 2 đối tượng có thể mang bản chất sự sống hay không” [50, tr. Trong cuốn sách Xã hội học truyền thông đại chúng, tác giả Trần Hữu Quang thì khẳng định: “báo chí truyền thông là một quá trình truyền đạt, Tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người”.
Theo đó, tác giả định nghĩa: “truyền thông đại chúng là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình” [50, tr. Nhƣ vậy, nhìn chung các tác giả trên bằng cách này hay cách khác, đã cố gắng đƣa ra những định nghĩa chung nhất về báo chí và tự dƣng lại đều xem báo chí nhƣ một phƣơng tiện truyền đạt, chia sẻ thông tin giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội. Những định nghĩa đƣợc đƣa ra nhƣ một sự cố gắng để khẳng định nội hàm cơ bản của báo chí. Tuy nhiên, trong một phạm 12 z vi nhất định, đây là những định nghĩa khá rộng và chƣa biểu thị hết các loại hình báo chí đang hiện diện trong xã hội và các loại hình ấy đƣợc hiểu nhƣ thế nào diễn đạt ra sao.
Theo Điều 3 Luật Báo chí 2016 quy định: Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, đƣợc sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử. Hoạt động báo chí là hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí, sản phẩm báo chí, sản phẩm thông tin có tính chất báo chí; cung cấp thông tin và phản hồi thông tin cho báo chí; cải chính thông tin trên báo chí; xuất bản, in, phát hành báo in; truyền dẫn báo điện tử và truyền dẫn, phát sóng báo nói, báo hình. Báo in là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phƣơng tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in. Báo nói là loại hình báo chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, đƣợc truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau.
Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, đƣợc truyền dẫn trên môi trƣờng mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử. Điều 3 luật báo chí chƣa đƣợc xem nhƣ một định nghĩa chính thức về báo chí nhƣng với cách liệt kê nhƣ trên đã chỉ rõ các loại hình báo chí trong xã hội và sẽ đƣợc làm căn cứ chủ yếu để tìm hiểu các nội dung liên quan đến quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động báo chí. Văn hóa Văn hóa là một khái niệm đa nghĩa đã từng đƣợc nghiên cứu rất nhiều và có nhiều định nghĩa khác nhau. Sở dĩ nhƣ vậy là do văn hóa đƣợc nhìn nhận dƣới nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau.
Xã hội càng phát triển thì văn hóa càng phát triển theo và văn hóa cũng chính là động lực thúc đẩy cho cuộc sống con ngƣời phát triển lên những bƣớc cao hơn. Ở các nƣớc phƣơng Tây, khái niệm văn hóa đƣợc bắt nguồn từ tiếng La Tinh: “cultura” có nghĩa là trồng trọt, canh tác, từ đó hiểu rộng ra là chăm 13 z sóc, vun trồng, chăm sóc cây cối, chăm sóc con ngƣời, trồng cây – trồng ngƣời, đào tạo khả năng con ngƣời về mọi mặt. Tuy nhiên, đến nửa sau thế kỷ XVIII, thuật ngữ “cultura” mới thực sự trở thành quan niệm, một thuật ngữ với tƣ cách khoa học. Phƣơng Đông, theo nguyên nghĩa của chữ Hán: “Văn” là đẹp, “Hóa” là giáo hóa.
Văn hóa có thể hiểu nôm na là giáo hóa cái đẹp. Quan niệm về cái đẹp của mỗi dân tộc có những sự khác biệt. Chính những khác biệt trong văn hóa của mỗi dân tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú, tạo nên bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc tạo nên bản sắc văn hóa của mỗi cộng đồng. Cái riêng về văn hóa mỗi dân tộc là cơ sở để phân chia văn hóa Đông – Tây, văn hóa dân tộc, văn hóa vùng miền, văn hóa từng dân tộc và văn hóa của mỗi gia đình, cộng đồng.
Các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam tiếp cận nghiên cứu theo nhiều khía cạnh và cấp độ khác nhau về văn hóa và đã đƣa ra hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa trở thành đầu mối của các cuộc tranh luận lâu dài. Vì vậy, khái niệm văn hóa cũng đƣợc hiểu theo nhiều cấp độ, thậm chí có những định nghĩa rất khác nhau, vẫn còn là một khái niệm “để ngỏ” hay còn gọi là “khái niệm mở”. Dƣới góc độ triết học, văn hóa đƣợc định nghĩa “là triết lí về cuộc sống, về các giá trị, các tiêu chuẩn và quy chế, cách hành xử thực tế cũng như các sản phẩm vật thể và phi vật thể được tạo ra từ những nhân tố này. Triết lí và những sản phẩm này được con người kế thừa từ các thế hệ sau, để cuối cùng dưới mọi hình thức khác nhau, và bằng cách này hay cách khác phân biệt những cá thể thuộc nền văn hóa này với những cá thể nền văn hóa khác” [23, tr.
Năm 1988, nhân dịp Lễ phát động Thập kỷ Thế giới phát triển văn hóa (1988-1997), theo đó UNESCO cho rằng: “Văn hóa là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm cả mặt tình cảm, trí thức, vật chất, tinh thần của xã hội. Nó không 14 z thuần túy bó hẹp trong sáng tác nghệ thuật, mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền cơ bản về con người, truyền thống và tín ngưỡng” [39, tr. Năm 2002, trong tuyên bố về đa dạng văn hóa, UNESCO đƣa ra định nghĩa mới về văn hóa: “văn hóa được đề cập đến như một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và cảm xúc của một xã hội hay nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng ngoài văn hóa và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị truyền thống và đức tin” [65, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng việc kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại, xuất phát từ chủ nghĩa yêu nƣớc, từ truyền thống văn hiến ngàn năm của dân tộc Việt Nam.
Ngƣời coi văn hóa bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa tinh thần. Ngƣời đã lí giải giản dị và dễ hiểu rằng: “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo đó gọi là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [15, tr.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “văn hóa” là một danh từ, có 5 cách hiểu: (1) những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử như: nền văn hóa dân tộc hay kho tàng văn hóa dân tộc; (2) đời sống tinh thần của con người như: kinh tế, văn hóa tồn tại và phát triển trong đời sống hàng ngày của nhân dân; (3) tri thức khoa học, trình độ học vấn: trình độ văn hóa, các môn văn hóa. (4) lối sống, cách ứng xử có trình độ cao, biểu hiện văn minh; (5) nền văn hóa một thời cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung như: văn hóa Đông Sơn, văn hóa rìu hai vai. Học giả Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa sử cương, theo ông hai tiếng văn hóa là chỉ chung tất cả những phƣơng diện sinh hoạt của loài ngƣời, cho nên có thể nói: “văn hóa tức là sinh hoạt” [1, tr. 15 z Viện sỹ Trần Ngọc Thêm trong công trình nghiên cứu Cơ sở văn hóa Việt Nam.
Văn hóa theo ông đƣợc hiểu nhƣ sau: “văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [61, tr. Nhóm tác giả Giáo trình Lý luận văn hóa Mác – Lênin, Khoa Văn hóa Xã hội chủ nghĩa, Học viện Báo chí và Tuyên truyền định nghĩa: “Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo, tích lũy trong lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn của con người. Các giá trị này được cộng đồng chấp nhận, vận hành trong đời sống xã hội và liên tiếp truyền lại cho các thế hệ sau. Văn hóa thể hiện trình độ phát triển và những đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [32, tr.