Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ LĂNG HOÀNG GIA TẠI GÒ CÔNG (TỈNH TIỀN GIANG) 1. Cơ sở lý luận và lý thuyết 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài Nghệ thuật trang trí Triết gia Immanuel Kant (1724 - 1804) với quan điểm “nghệ thuật là ý tưởng về cái Đẹp” [36, Tr. 134], cái đẹp luôn là mục tiêu phấn đấu, đạo lý cơ bản của con người.
Bên cạnh cái làm đúng, làm điều tốt, con người cần phải đạt được cái thẩm mỹ. Trong quá trình đi tìm cái “đẹp” con người đã sáng tạo ra nghệ thuật. Khởi nguồn của nghệ thuật có lẽ được bắt đầu từ khi con người khắc họa trên vách đá để miêu tả các họat động của cuộc sống thường nhật. Đến những hình trang trí trên các công trình kiến trúc, trên các vật dụng hằng ngày được giản lược từ cỏ cây, hoa lá, chim muông thú vật.
Nghệ thuật trang trí là một thuật ngữ du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam, tiếng Anh gọi là Decorative Art. Theo thông tin Mỹ thuật số 15 -16 trong bài nghiên cứu Sự ra đời của nghệ thuật trang trí, tác giả đã viết “Thích trang hoàng và làm đẹp là bản tính của con người, không chỉ bản thân mà còn cho mọi vật dụng xung quanh. Điều này xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử nhân loại khi con người có trí khôn”. Hay trong cuốn Trang trí cơ bản của tác giả Trịnh Ngọc Lâm cũng đã cho biết: “Nghệ thuật trang trí luôn bị chi phối bởi thị hiếu thẩm mỹ của từng giai cấp trong xã hội.
Nó phản ánh ý thức trình độ xã hội trong giai đoạn cụ thể” [41, tr 36]. Tại Berlin, Đức đã xây dựng một bảo tàng nghệ thuật trang trí, bảo tàng trưng bày loại hình trang trí như trang phục, nội thất, đồ đạc và một số sản phẩm thủ công như lụa, thủy tinh, kim loại… có từ thời kỳ trung cổ cho đến những các tác phẩm thế kỷ XX (từ trường Bauhaus 16 và một số nhà thiết kế nổi tiếng như Chales và Ray Eames). Bảo tàng nghệ thuật trang trí đã giúp con người được nhìn nhận vai trò quan trọng của trang trí và thiết kế mỹ thuật đối với cuộc sống con người. Theo Từ điển Thuật ngữ mỹ thuật phổ thông, khái niệm “nghệ thuật trang trí” được hiểu: Nghệ thuật trang trí là nghệ thuật làm đẹp, phục vụ cho đời sống vật chất tinh thần của con người nhờ những yếu tố trang trí, các vận dụng vừa có giá trị thẩm mỹ vừa nâng cao được giá trị sử dụng, vì vậy, trang trí nằm trong nghệ thuật ứng dụng (art appliques).
Đời sống con người bao gồm nhiều lĩnh vực: ăn mặc, ở, lao động, học tập, nghỉ ngơi, giải trí, thờ cúng, hoạt động tinh thần… nên nghệ thuật trang trí có nhiều ngành khác nhau để đáp ứng các nhu cầu ấy… [46]. Từ điển bách khoa toàn thư Encyclopedia Britannica, mục từ Decorative art có đưa ra khái niệm (dịch) ra như sau: Như vậy, qua một số khái niệm có thể đánh giá nghệ thuật trang trí là một loại hình mỹ thuật, trong đó nghệ thuật trang trí đề cao tính ứng dụng và thẩm mỹ. Nghệ thuật trang trí ra đời do nhu cầu làm đẹp của con người, được sử dụng trong các ngành thiết kế thời trang, nội thất, kiến trúc, đồ gia dụng…và được biểu hiện thông qua sự sắp đặt các đường nét, nhịp điệu, hoa văn - họa tiết, màu sắc trong mối quan hệ với bề mặt chất liệu của sự vật [15]. Qua hàng nghìn năm biến đổi và phát triển, nền mỹ thuật các triều đại Việt Nam đã chuyển mình với những nét độc đáo riêng biệt về biểu hiện của nghệ thuật trang trí từ màu sắc, kiểu dáng và đặc biệt từ các hình tượng, hoa văn được ứng dụng trên các công trình.
Điều này phản ánh sâu sắc về tính thẩm mỹ, nét văn hóa của từng thời kỳ lịch sử. Nằm trong dòng chảy của các triều đại phong kiến, nghệ thuật trang trí trên các tác phẩm điêu khắc, công trình kiến 17 trúc cũng không ngoại lệ, là một hình thức biểu hiện về nhu cầu làm đẹp, chứa đựng những nhu cầu khát vọng và thể hiện cuộc sống đời thường của con người dưới triều Nguyễn. Khi nghiên cứu nghệ thuật trang trí truyền thống ở Việt Nam, các tác giả Đoàn Thị Tình, Nguyễn Phi Hoanh, Ngô Văn Doanh… cho rằng không chỉ dừng lại ở việc thể hiện yếu tố thẩm mỹ đẹp mà nó còn ẩn chứa bên trong là bao nhiêu giá trị tinh thần, tính văn hóa của dân tộc. Tác giả Trần Lâm Biền cũng đưa ra nhận định “Nghiên cứu hoa văn - họa tiết truyền thống cũng là tìm về với bản sắc văn hóa của một quốc gia và thấy được tính xuyên suốt, đa dạng trong sự thống nhất của lịch sử, văn hóa Việt Nam” [06, Tr 113].
Nghiên cứu Nghệ thuật trang trí lăng Hoàng gia tại Gò Công (Tỉnh Tiền Giang) chính là nghiên cứu vai trò, tầm quan trọng, giá trị biểu tượng của sự sắp đặt các yếu tố màu sắc, họa tiết, chất liệu, hình thức trang trí tạo trên một bố cục trang trí trong một bối cảnh lịch sử cụ thể. Những biểu tượng trong trang trí trên công trình lăng Hoàng gia tại Gò Công (Tỉnh Tiền Giang) đã góp phần khẳng định nét văn hóa, bản sắc riêng của người Việt nói chung, triều đình nhà Nguyễn nói riêng. Nghiên cứu Nghệ thuật trang trí Lăng Hoàng gia tại Gò Công là tìm về với cái bản thể để thấy được giá trị cốt lõi của mỹ thuật cung đình, cũng như các giá trị tinh thần, của triều đình nhà Nguyễn. Lăng mộ và lăng Hoàng gia Khái niệm lăng mộ Trong Từ điển Bách khoa Britannica, tập 2, đề cập đến thuật ngữ lăng mộ được chia ra gồm hai phần là lăng và mộ: “lăng là ngôi mộ lớn, đầy ấn tượng, đặc biệt một công trình bằng đá với những vị trí chôn cất người chết phía trên mặt đất.
và cho rằng những lăng mộ hàm chứa nhiều hoài bão” [15]; “Mộ là nơi an nghỉ hay nhà dành cho người chết. Thuật ngữ này được dùng để chỉ chung cho tất cả những loại phần mộ, bia kỷ niệm an táng, đài tưởng niệm” [15]. Trong 18 Từ điển Bách khoa Britannica, tập 2, đề cập đến thuật ngữ lăng mộ và được hiểu là công trình cất giữ thi hài của những nhân vật quan trọng. “Ở Trung Quốc, theo sách Thủy kinh chú đời Tần, mộ vua gọi là sơn, đời Hán gọi là lăng, nên thường gọi là sơn lăng.
Ở Việt Nam, từ nhà nước Văn Lang đến nhà nước Đại Nam có nhiều lăng như thế. Dưới góc nhìn của ngành khảo cổ học, từ điển Bách khoa Britannica đã đề cập đến một số tên gọi về loại hình di tích này như sau: “- Phần: Vốn là đống đất lớn, sau này phần và mộ được gộp lại là phần mộ để chỉ mồ mả. - Mộ: Là cách gọi chung nơi chôn cất các bậc Vương giả, Hoàng tộc ngày xưa, sau chỉ chung nơi chôn người chết. - Gò: Nghĩa gốc là núi đất, thời Xuân Thu gọi mộ là gò (khưu), sau ghép với mộ.
Sách Chu lễ có viết “kích thước của mộ (khưu phong) là theo tước vị, đẳng cấp’’ - Trủng: (mộ), có nghĩa gốc là đỉnh núi, sau gọi nấm đất lớn (cao phần) là Trủng (mộ phần). - Lăng, nghĩa gốc là núi đất lớn, về sau gọi mộ Đế vương là lăng, cung điện ở khu mộ táng đế vương được gọi là lăng tẩm.[15] Lăng Hoàng gia thời Nguyễn: Lăng mộ Hoàng gia triều Nguyễn là một trong những bộ phận quan trọng trong tổng thể kiến trúc kinh đô Huế - Di sản văn hóa thế giới được UNESCO tôn vinh từ năm 1993. Nói đến Huế, người ta không chỉ nghĩ đến thành trì, cung điện, đàn miếu, chùa quán mà còn nghĩ ngay đến các khu lăng tẩm rộng lớn của các vua Nguyễn, những công trình kiến trúc đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật truyền thống và sự hài hòa với tự nhiên. Mỗi một lăng vua, với tính cách riêng biệt của nó, là một thành tựu tuyệt mỹ của nền kiến trúc cảnh vật hóa, và mỗi lăng tẩm khêu gợi trong cảm xúc của khách 19 tham quan một âm vang đặc biệt.
Lăng Gia Long giữa một khu rừng thiên nhiên bao la gợi lên một ấn tượng hùng tráng và thanh thản, lăng Minh Mạng đầy vẻ trang nghiêm, và lăng Tự Đức gợi cho khách du ngoạn hồn êm thơ mộng [11]. Biểu tượng và biểu tượng trang trí Biểu tượng (symbol) trong tiếng Anh là một từ bắt nguồn từ ngôn ngữ cổ ở châu Âu (symbolus trong tiếng La Mã và symbolon trong tiếng Hy Lạp). Tác giả Đinh Hồng Hải dẫn từ Từ điển biểu tượng (dictionary of Symbol) của Liungman thì “những gì được gọi là biểu tượng khi nó có một nhóm người đồng ý cho rằng có nhiều hơn một ý nghĩa là đại diện cho chính bản thân nó” [31]. ông Franz Boas viết: Nghiên cứu các biểu tượng trong nghệ thuật tạo hình, đặc biệt là trong kiến trúc, điêu khắc và hội họa, là vấn đề cốt lõi của các nhà nghiên cứu phê bình nghệ thuật.
Điểm tập trung ở đây không nằm ở ý nghĩa của biểu tượng, với người nghệ sĩ, với công chúng, mà nằm ở những hình mẫu có thể được dựng lên để truyền đạt ý nghĩa một cách sinh động nhất, hay biểu cảm nhất [31]. Biểu tượng trang trí gắn liền với đặc trưng của nghệ thuật tạo hình và cơ sở nghệ thuật thị giác (Visual Art). Thuyết giải mã biểu tượng kết hợp với các truyền thuyết phương Đông đã được vận dụng trong nhiều nghiên cứu, đặc biệt là cơ sở quan điểm lý thuyết biểu tượng của Turner đã được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa trong nước khẳng định là có tính phù hợp trong nghiên cứu mỹ thuật cổ Việt Nam. Điều nổi bật của thuyết giải mã biểu tượng là việc nhìn nhận các biểu tượng như là cách để “định vị” một giá trị trong cách thức “nhận định”, định hướng tâm lý xã hội, đằng sau nó là những khuôn mẫu chính trị, văn hóa, thái độ ứng xử xã hội được xác định.
Trên tinh thần và quan điểm giả định, về hoa văn, cấu trúc thông qua biểu tượng có tính xã hội làm cho sự soi chiếu vào 20 bên trong của đối tượng nghiên cứu được sâu sắc và sáng tỏ hơn. Trong trường hợp này, việc giải mã các biểu tượng và các biến thể của nó là một sự cần thiết tất yếu để lý giải được ngọn nguồn của sự sáng tạo và sự vận động, chuyển hóa của các phong cách nghệ thuật, thủ pháp trang trí tạo hình và kết quả biểu hiện của nó.