phần mở đầu (9 trang), kết luận (4 trang), tài liệu tham khảo (10 trang), phụ lục (75 trang), nội dung của đề tài đƣợc chia thành 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và tổng quan các vấn đề có liên quan tới luận án (37 trang) - Chƣơng 2: Nhận diện yếu tố mỹ thuật trên tiền giấy Việt Nam (43 trang) - Chƣơng 3: Đặc trƣng nghệ thuật và sự biến đổi của phong cách mỹ thuật trên tiền giấy Việt Nam (57 trang) 17 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN 1. Cơ sở lý luận để nghiên cứu luận án 1. Cơ sở lý thuyết Trên thế giới đã tồn tại thuật ngữ The Art of Money (Nghệ thuật tiền giấy), trong đó đề cập tới các chủ đề trong tiền giấy cũng nhƣ cách in ấn. Tuy nhiên, những tài liệu coi tiền giấy nhƣ một thực thể mỹ thuật thì chƣa nhiều.
Cuốn sách đáng chú ý nhất hiện nay là cuốn The Art of Money của David Standish viết năm 2000 cũng chƣa đi vào nghiên cứu lý luận tiền giấy và chƣa thực sự phân tích tiền giấy nhƣ thực thể mỹ thuật mà chỉ dừng lại ở việc giới thiệu lịch sử tiền giấy và các chủ đề cơ bản cũng nhƣ một số hình ảnh tiền giấy tiêu biểu trên thế giới [134]. Đề cập đến chức năng của tiền tệ nói chung và tiền giấy nói riêng, hầu hết chúng ta đều thống nhất với nhau ở 3 chức năng cơ bản là: Phƣơng tiện trao đổi, thƣớc đo giá trị và cất trữ giá trị [38, tr. Tuy nhiên, tiền giấy còn là sản phẩm do con ngƣời tạo ra và ghi dấu các giá trị về văn hóa và thẩm mỹ trên đó. Nhƣ vậy, tiền giấy có thể đƣợc xem xét dƣới góc độ là sản phẩm của nghệ thuật tạo hình.
Việc này tạo cơ sở để đề tài nghiên cứu đi đúng hƣớng và điều kiện tiên quyết để các điểm mới khác đƣợc tồn tại. Việc biện luận cho quan điểm này đƣợc thực hiện trên cả cơ sở lý thuyết và thực tiễn. Theo quan điểm về phân loại các loại hình nghệ thuật của M. Cagan đƣợc trình bày trong cuốn Hình thái học của nghệ thuật, nghệ thuật có thể chia thành nghệ thuật hai chức năng (nghệ thuật và vụ lợi) và nghệ thuật một chức năng (nghệ thuật thuần túy) [67, tr.
Ông cho rằng: “Trong quá trình phát triển lịch sử của nghệ thuật, do ảnh hƣởng của những nhân tố khác nhau, đan chéo nhau, đã bắt đầu diễn ra ngày càng tích cực hơn “phản ứng phân rã” của những phức thể nghệ thuật tổng hợp cổ xƣa nhất là nghệ thuật văn nghệ và nghệ thuật kỹ thuật” [67, tr. Theo sơ đồ phân loại nghệ thuật tại bảng số 25 của cuốn sách, ta có thể khái quát vấn đề nhƣ sau: Khởi đầu từ nghệ thuật nguyên thủy, phân loại thành nghệ thuật có 18 xu hƣớng “kỹ thuật phức tạp” và “văn nghệ phức tạp”, từ nghệ thuật có xu hƣớng kỹ thuật phức tạp, theo nhánh phân hóa “sản xuất nghệ thuật” mà trở thành có 2 loại là “Sáng tạo theo kiến trúc” và “sáng tạo theo miêu tả”, từ nhóm sáng tạo theo kiến trúc cùng với môi trƣờng tồn tại và sự phát triển của khoa học mà tạo thành các thể nghệ thuật có tính kiến trúc, trong đó có “nghệ thuật ứng dụng”[67, tr. Nhƣ vậy, ta có thể rút ra quan điểm là thiết kế đồ họa in ấn là chuyên ngành của mỹ thuật, thiết kế tiền giấy cũng sử dụng các phƣơng pháp của thiết kế đồ họa in ấn nhƣng ở tầm mức cao hơn với việc thiết kế cho nhiều phƣơng pháp in ấn khác nhau. Tờ tiền lƣu lại các hình ảnh, hoa văn họa tiết và ngôn ngữ của mỹ thuật nên bản thân nó là sản phẩm mỹ thuật.
Nhà nghiên cứu tiền giấy nổi tiếng thế giới Hans de Heij không chỉ cho là Thiết kế tiền giấy là chuyên ngành của Thiết kế đồ họa in ấn, mà ông còn coi đó là “is a specific of graphic design” (dạng đặc biệt của Thiết kế đồ họa) [137, tr. Theo ông, nhà thiết kế tiền cần thông thạo 37 yếu tố cấu thành của tiền giấy [137, tr.62] cùng với sự hiểu biết về đặc tính kỹ thuật của giấy in tiền, của các yếu tố chống giả, kỹ thuật của nhiều phƣơng pháp in ấn khác nhau. Nhƣ vậy, nhà thiết kế mẫu tiền hoàn toàn khác biệt so với nhà thiết kế đồ họa in ấn thông thƣờng, hoạt động thiết kế tiền cũng hoàn toàn khác biệt so với hoạt động thiết kế đồ họa in ấn. Sự khác biệt này thể hiện ở tính tầm mức, trình độ của hoạt động thiết kế.
Nếu việc thiết kế đồ họa in ấn chỉ thiết kế cho 1 phƣơng pháp in thì thiết kế mẫu tiền tích hợp trong đó nhiều công nghệ in ấn khác nhau. Ngƣợc lại, nếu đồ họa in ấn có muôn hình cách thể hiện thì tiền giấy chỉ có cấu trúc hình thức khá cố định với 3 yếu tố chính là (1) hoa văn họa tiết trang trí, (2) nội dung hình ảnh chủ đề và (3) chân dung cách nhân vật lịch sử. Với đối tƣợng sử dụng lớn, số lƣợng bản in cực lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tiền giấy là sản phẩm đồ họa đặc biệt mà theo M. Cagan, việc phát triển của nghệ thuật ứng dụng luôn song hành cùng sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật [67, tr.
Ngày 12 tháng 2 năm 1996, Viện nghiên cứu Tiền tệ Châu Âu đã đƣa ra các tiêu chí cho việc thiết kế đồng tiền châu Âu trong Phụ lục phần 1 trong văn bản 19 “Chỉ dẫn thiết kế cho hệ thống tiền giấy Châu Âu” (Annex, Part 1, Design brief for the design of a series of Euro Banknotes). Với cơ sở này, Viện nghiên cứu tiền tệ châu Âu đã tổ chức cuộc thi thiết kế tiền giấy cho châu Âu vào năm 1995 và tổ chức lựa chọn mẫu thiết kế vào năm 1996. Văn bản này có các nội dung chính nhƣ sau: - Về tiêu chí chính cho thiết kế tiền giấy, đƣợc đề cập ngay ở phần đầu của tài liệu này. Nội dung của các tiêu chí đánh giá cho tiền giấy là: “Viện tiền tệ Châu Âu mong muốn tổ chức cuộc thi thiết kế bộ tiền giấy thể hiện di sản văn hóa Châu Âu [135, tr.
Việc thiết kế hệ thống tiền giấy mới sẽ là sự liên hệ, hợp thành giữa yếu tố bảo an và tính nghệ thuật. Các tiêu chí đƣợc đặt ra là: Dễ dàng nhận biết; khả năng bảo an chống làm giả; có thẩm mỹ hấp dẫn. - Về tính thẩm mỹ và văn hóa của tiền giấy, có yêu cầu đối với mẫu thiết kế: “Mẫu thiết kế tiền giấy cần rõ ràng và đặc trƣng của Châu Âu cũng nhƣ nên thể hiện rõ ràng văn hóa và các thông điệp chính trị đƣợc công dân Châu Âu chấp nhận” đồng thời xác định “để có thể đạt đƣợc sự cân bằng giữa yêu cầu kỹ thuật và thẩm mỹ, bản chỉ dẫn thiết kế này nhắm tới việc mô tả các yếu tố cần thiết của thiết kế trong khi vẫn bảo đảm cho nhà thiết kế sự tự do tối đa” [135, tr. - Về chân dung trên tiền giấy: Các chân dung nên xuất hiện ở mặt trƣớc (mặt A) của tờ tiền và đƣợc in lõm, “cả hai mắt cần đƣợc nhìn thấy trên chân dung”.
- Về các yếu tố chống giả: Sự quan hệ giữa vị trí và kích thƣớc các yếu tố chống giả cần thống nhất trong tất cả các mệnh giá. Yếu tố chống giả cho nhận biết của công chúng không nên tập trung ở một vùng duy nhất mà nên bố trí phân tán trên toàn bộ bề mặt tờ tiền. Nó nên là một bộ phận của thiết kế chung và nên dễ dàng nhận biết. Vị trí và kích thƣớc của bóng chìm cũng nhƣ foil chống giả đƣợc chỉ dẫn trên bản thiết kế.
- Về màu sắc chủ đạo của tiền giấy: Trong phụ lục 3, Viện Nghiên cứu tiền tệ châu Âu đã đƣa ra những quy định về màu sắc nhƣ sau: “Để dễ dàng phân biệt tiền giấy châu Âu cho mỗi mệnh giá cần có màu sắc chủ đạo riêng biệt”[135, tr. Màu sắc của các mệnh giá khác nhau đƣợc gợi ý sử dụng nhằm phân biệt đƣợc tốt nhất. Vì thế, mỗi một mệnh giá của tiền giấy Euro đều đƣợc nhận biết trên cơ sở của 20 một màu sắc chủ đạo của cả hai mặt tờ tiền, “màu của phần in lõm không nên quá sáng hoặc quá nhạt”. Sự lựa chọn màu sắc đặc trƣng cho các mệnh giá khác nhau thể hiện sự cần thiết trong quan điểm về bảo an.
- Về các hình tượng nghệ thuật: Tiền giấy Euro sử dụng hình tƣợng Cổng ở mặt trƣớc mà hình tƣợng Cầu ở mặt sau. Các công trình kiến trúc này phải mang phong cách đặc trƣng cho kiến trúc châu Âu ở mỗi thời kỳ. Các hình tƣợng trên có ý nghĩa biểu tƣợng và văn hóa đặc trƣng của châu Âu. Cái cổng là sự chào đón và hình tƣợng Cái cầu là sự liên hệ giao lƣu giữa các nƣớc, các nền văn hóa để mở ra thời đại mới.
So sánh thực tế hình tƣợng trong hệ thống tiền giấy châu Âu với bộ tiêu chí thiết kế đƣa ra ban đầu, ta thấy rằng nhà thiết kế và hội đồng chấm chọn đã tuân thủ nghiêm ngặt các quy định. Cơ sở thực tiễn Tuy chƣa có những nghiên cứu về mỹ thuật trên tiền giấy Việt Nam nhƣng tiền giấy Việt Nam đã đƣợc xuất hiện trong dạng tác phẩm mỹ thuật ứng dụng và đã đƣợc một số nhà nghiên cứu nhắc tới. Năm 2002, trong Kỷ yếu hội thảo Đồ họa ứng dụng, ông Vũ Đình Nhâm, trong đề cƣơng Hội thảo đồ họa ứng dụng Việt Nam đã đề cập tới Giấy bạc nhƣ một đối tƣợng nghiên cứu của đồ họa ứng dụng [85, tr. Cũng trong hội thảo này, họa sĩ Lê Huy Tiếp trong bài “Một số khái niệm về các thể loại của nghệ thuật đồ họa” đã nhắc tới tiền giấy nhƣ một sản phẩm của đồ họa ứng dụng: “Ngày nay nếu chúng ta ngoảnh lại xem tất cả đồ dùng hàng ngày từ bao diêm, tem thƣ, giấy bạc, đến sách vở, báo chí, biển giao thông, nhãn máy vv…Ta đều thấy chúng là sản phẩm nghệ thuật đồ họa” [85, tr.
Nhà nghiên cứu Lê Thị Hoài Linh trong bài Đồ họa ứng dụng trước thiên niên kỷ mới – Một cơ hội phát triển mới đã nhắc tới việc “Năm 1396, Hồ Quý Ly cho in tiền giấy vẽ tứ linh (rồng, phƣợng, lân, rùa), mây sóng. Để có đƣợc lƣợng tiền lớn, có thể phải dùng ván khắc in theo kỹ thuật đồ họa” [85, tr.