Chương I: Giới thiệu các khúc ngâm.1 Tác phẩm “Chinh phụ ngâm”.2 Tác phẩm “Cung oán ngâm” 2- Tác giả.1 Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm.2 Nguyễn Gia Thiéu. Chương II: Đặc điểm nghệ thuật các khúc ngâm cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX. I- Quan niệm nghệ thuật về con người. 2- Thời gian nghệ thuật - Không gian nghệ thuật trong các khúc ngâm.
3- Ngôn ngữ nghệ thuật.1 Tượng trưng. Gà SVTH: Trần Thị Thơm Luận văn tốt nghiệp ¬ _ GVHD: TS Lê Thu Yến 3. © Phần kết luận. PHẦN NỘI DUNG CHUONG I: GIỚI THIỆU CÁC KHÚC NGÂM.1 Chỉnh phụ ngâm khúc.
Chinh phụ ngâm là câu chuyện tâm tình của người vợ có chồng đi chỉnh chiến. Khúc ngâm kể về đôi vợ chồng trẻ đang sum vây hạnh phúc thì chiến tranh bất ngờ ap đến. Người chồng, một chang trai “vốn dòng hào kiệt” sẵn sàng nhận lệnh quân vương “xép bút nghiên theo việc dao cung”. Chang ham hở lên đường mong lập chiến công dâng tiến “bé rồng” và thỏa chí làm trai.
Thời gian thấm thoát thoi đưa: một năm. hai năm, rồi ba bốn năm người thiếu phụ đợi chờ - trông ngóng mà chồng nàng vẫn bién biệt cách xa. Nỗi nhớ chồng của người chỉnh phụ cũng từ đó mà nhân lên, mà lan tỏa bao trùm tận nơi chiến địa phương xa. Thương chồng, nhớ chồng, lo cho chồng bao nhiêu, nàng lại càng buồn cho thân phận mình, càng ai oán, bất bình chiến tranh bấy nhiêu.
Trước cuộc sống thực tại khổ đau, cô lẻ nàng nhận ra chân tướng cái gọi là công danh, là phép công. Nàng ân hận vì đã từng tin tưởng hy vọng vào tước phong mà để chồng đi chỉnh chiến cuối cùng trong niềm khát khao mãnh liệt, nàng tưởng tượng ra ngày đoàn tụ lứa đôi và thé là nàng đắm chìm trong hạnh phúc ao tưởng của mình.2 Cung oán ngâm khúc. Nếu “Chinh phụ ngâm” (Dang Trần Côn - Đoàn Thị Điểm) là lời than của người chỉnh phụ có chồng đi chỉnh chiến thì *Cung oán ngâm” (Nguyễn Gia Thiéu) là tiếng kêu xé lòng của người cung nữ dang được vua ngưỡng mo. sing ái bỗng nhiên bị ruồng bỏ.
Trong một đêm thu lạnh. nàng trải lòng mình ra với những nỗi oán duyên, tủi phận. Nàng nghĩ về mình. nghĩ về qúa khứ êm đẹp huy hoàng.
Thuở trước, nàng là một người tài sắc vẹn toàn và nàng cũng tự ý thức được điều đó. Tài sắc của nàng vang lừng trong nước khiến cho bao vương tôn qúy khách khát khao muốn làm bạn với nàng. Vậy mà trong con mắt của mỹ nhân kiêu sa ấy, tất cả chưa xứng đáng để nàng trao thân gửi phận. Nàng nhìn cuộc đời day màu sắc bi quan, định đi tu cho trọn kiếp.
Thế nhưng lửa khát khuo tinh duyên cứ âm Ï trong con người trẻ đẹp tài hoa cla nàng. Nàng đành phó mặc cuộc đời nàng cho ông trời định đoạt. Qua là trời kia run rúi khéo xe duyên mỹ nhân với đấng quân vương. Nàng trở thành cung nữ được vua yêu SVTH: Trần Thị Thơm k Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Lê Thu Yến dấu, được hạnh phúc trong bể ái nguồn ân, được sống nơi lầu oanh gác phượng cao sang, đài các.
Nàng cảm thấy thỏa mãn và kiêu hãnh vô cùng. Ngờ đâu, lòng sting di của vua cứ mỗi ngày một phai nhạt theo thời gian. Cung nữ wi hờn cho mình và oán trách nhà vua, thậm chí có khi nàng uất ức cao độ muốn đạp tiêu phòng để thoát khỏi nỗi đau bị ruồng bỏ. Nàng ân hận thà trước kia lấy một người chồng quê mùa còn hạnh phúc hơn gấp bội.
Nhưng cuối cùng trong tình cảnh ê chế ấy cung nữ vẫn cố gượng dồi phấn xông hương, cố giữ gìn nhan sắc của mình. Bởi vì nàng ảo tưởng rằng: lời oán thán của nàng sẽ động đến “citu ràng” khiến nhà vua nghĩ lại.1 Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm.1 Tác giả Đăng Trần Côn. Là tác giả của “Chinh phụ ngâm” bằng Hán văn, đồng thời cũng là một cây viết vững chãi cuối đời Lê. Ông quê ở làng Nhân Mục (thường gọi là làng Mọc).
huyện Thanh Trì (phía Tây thành Thăng Long) nay là quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông sống cùng thời với chúa Uy vương Trịnh Giang, tức khoảng nửa đầu thế ki XVIII nhưng hiện nay chưa biết đích xác ông sinh năm nào và mất năm nào. Theo học giả Hoàng Xuân Han, Dang Trần Côn có thé sinh vào khoảng 1710— 1720 và mất vào 1745 |9:8,9|. Đặng Trần Côn là người rất hiếu học.
Tương truyền lúc bấy giờ Trịnh Giang có lệnh rất ngặt về sự cấm lửa, ban đêm ông đã kiên trì đào hầm để ngồi đọc sách, làm bài. Ông thi đậu hương cống nhưng thi hội hỏng. Tính ông duénh đoàng phóng túng, không muốn “rang buộc về sự thi cứ”, nên ông đành nhận chức huấn đạo ở trưởng phủ. Sau đó chính thức đổi sang làm tri huyện Thanh Oai.
Ông mất khi làm đến chức ngự sử đài Chiếu khám. Ngay từ hồi trẻ, lời thở phú của ông rất trau gidi, bóng bẩy. Ông thường dùng điển cố một cách uyên thâm. Thi văn của ông được mọi người truyền tụng, học hỏi.
Tác phẩm đều bằng chữ Hán. Ngoài “Chinh phụ ngâm” còn có “Truong Hàn tu thuần lô” (Trương Hàn nhớ sau thuần, cá vược), "7rương Lương bố v” (Trương Lương áo vải), “Khấu môn thanh” (Tiếng gõ cửa) là những bài phú. Về thơ có “Tiêu tương bát cảnh” (Tám cảnh Tiêu Tương). Tất cả những điều nói ở trên đã chứng minh Dang Trần Côn là người tài cao, học rộng đáng để người sau khâm phục, kính trọng.2 Dịch giả Đoàn Thị Điểm.
Từ trước tới nay, dịch phẩm “Chinh phụ ngâm” hiện hành van được cor là của Đoàn Thị Điểm. Không ít nhà nghiên cứu chứng minh ban dịch “Chinh phụ ngâm” đang truyền tụng là của Phan Huy Ích. Tuy nhiên, sự thực về nhận SVTH: Trần Thị Thơm : Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Lê Thu Yến định này vẫn chưa được khẳng định, vì những bằng chứng đưa ra chưa hoàn toàn thuyết phục. Va lại, dù bản dịch hiện hành đó không phải cua Đoàn Thi Điểm đi nữa thì bà vẫn là người đầu tiên dịch “Chinh phụ ngâm” và bản dịch đó có ảnh hưởng thực sự trong sự phát triển của văn học chữ Nôm lúc bấy giờ.
Trên cơ sở đó, tạm thời coi Đoàn Thị Điểm là dịch giả của tác phẩm “Chinh phụ ngâm” đang được lưu truyền, như từ trước tới nay vẫn thừa nhận. Đoàn Thị Điểm hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, quê làng Hiển Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (nay thuộc Hưng Yên), sinh năm 1705, mất năm 1748. bà là con Đoàn Doãn Nghi, em Đoàn Doãn Luân, hai người đều đỗ hương cống nhưng không ra làm quan mà dạy học ở nhà. Bản thân Đoàn Thị Điểm là người phụ nữ nhan sắc đẹp đẽ lại có học vấn cao.
Nhiều người đã hỏi bà làm vợ, trong đó có cả những nhà quyền qúy, bà đều từ chối. Năm 37 tuổi bà nhận lời làm vợ Nguyễn Kiểu, một tiến sĩ đã góa vợ. Lấy nhau chưa đầy một tháng thì chồng bà đi sứ Trung Quốc 3 năm. Cuộc sống của bà trong thời gian này không khác gì người chỉnh phụ.
Nguyễn Kiểu sau khi đi sứ về nước, năm 1748 được cử làm Đốc Đồng trấn Nghệ An. Doan Thị Điểm theo chồng vào đó. trên đường đi bà bị bệnh nặng mất ở Nghệ An ngày 11 tháng 9 năm 1748. Ngoài bản dịch “Chinh phụ ngâm” bà còn là tác giả của tập truyện chi Hán “Truyén kỳ tân pha” và nhiều thơ phú khác.2 Nguyễn Gia Thiéu Nguyễn Gia Thiéu hiệu Hi Tôn Tứ và Như ý Thiền, được phong tước hầu Ôn Như nên thường gọi là Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiéu.
Ong sinh năm 1741 trong một gia đình dai qúy tộc. Quê ở làng Liễu Ngan, Tổng Liễu Lam, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, xứ Kinh Bắc (nay là thôn Liễu Ngạn, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc). Ông thân sinh Nguyễn Gia Thiéu là Nguyễn Gia Ngô (1714 - 1757), một quan võ được phong tước hầu, gọi là Đạt Vũ hầu. Mẹ là quận chúa Quỳnh Liên, con gái An Đô vương Trịnh Cương.
Nguyễn Gia Thiều gọi chúa Trịnh Doanh đang cầm quyền lúc bấygiờ là cậu ruột và là con cô cậu với chúa Trịnh Sâm. Cuộc sống của Nguyễn Gia Thiều gắn bó mật thiết với họ Trịnh. Ngay từ khi lên 5 tuổi, Nguyễn Gia Thiểu đã được Trịnh Doanh đem vào phủ chúa nuôi cho ăn học. Từ nhỏ đến khi trưởng thành, Nguyễn Gia Thiéu đều sống trong phủ chúa, được hưởng nhiều ơn của chúa Trịnh, được sống trong công danh hiển qúy.
Ông nổi tiếng là người thông minh. Không những ông hiểu sâu biết rộng về sử học, văn học, triết học mà còn rất tỉnh thông nhiều bộ môn nghệ thuật: âm nhạc, hội họa, trang trí kiến trúc.chỉ cần tìm hiểu những sáng tác văn học cla Nguyễn Gia Thiéu ta đã thấy vốn tri SVTH: Trần Thị Thơm ủ Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Lê Thu Yến thức nghệ thuật của ông thật tinh tế, sâu rộng. Nguyễn Gia Thiéu rất được chúa tin yêu, thường làm quan trong vương phú. Năm 18 tuổi ông đã được giữ chức hiệu úy.
Năm 26 tuổi, thăng chỉ huy Đồng tri. Năm 30 tuổi, thăng tổng binh đồng tri. Thời gian nay ông lập được một số quân công nên được phong tước hầu, gọi là Ôn Như hầu. Năm 1782 ông được cử đi trấn thủ xứ Hưng Hóa.
Nhiều người cho rằng giai đoạn này chúa Trịnh không tin ông như trước nữa. Trong những năm sau đó, ông thường về nghỉ tại nhà riêng cạnh Hồ Tây "nghiên cứu đạo Tiên đạo Phật, lại cùng với danh sĩ đương thời kết làm bạn thơ, bạn rượu để vui chơi” (Dương Quảng Hàm). Thời gian này ông lấy hiệu là Hi Tôn Tử và Như Ý Thién. Phần lớn sáng tác của Nguyễn Gia Thiéu ra đời trong giai đoạn này.
Đến 1786 Tây Sơn kéo quân ra Bắc diệt Trịnh. ông trốn lên vùng rừng núi xứ Hưng Hoá. Năm 1789 Nguyễn Huệ đại thắng quan Thanh, lập lên triéu đại mới và kêu gọi đám quan lại cựu triều ra cộng tác với mình. Nguyễn Gia Thiéu được mời nhưng ông cáo bệnh từ chối.
Nguyễn Gia Thiéu lui về ở an nơi qué nhà, hang ngày uống rượu tieu sau, giả ngây giả dại và đến ngày 22 tháng 6 năm 1798 (tức ngày 9 tháng 5 năm Mậu Ngọ) thì qua đời, lúc ấy mới 58 tuổi. Ông để lại một sự nghiệp sáng tác đồ sộ với hàng nghìn bài thơ trong hai tập thơ chữ Hán "Ôn Như thi tập” (thượng và hạ). Thơ Nôm có “Tây Hồ thi tập” và “Tứ Trai thi tập”. Nhưng đáng tiếc là ngoài tác phẩm nổi tiếng “Cung oán ngâm” ra thì chỉ tìm thấy một vài bài còn sót lại chép trong tập “Tap ky” của Lý Văn Phức.