Bộ Giáo Dục và Đào Tạo: Nghệ Thuật Các Khúc Ngâm Cuối Thế Kỷ XVIII Đầu Thế Kỷ XIX

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp ngữ văn đặc điểm nghệ thuật các khúc ngâm cuối thế kỉ xviii và đầu thế kỉ xix, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp cụ thể

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Tốt Nghiệp

2001

81
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

PHẦN DẪN NHẬP

0.1. Mục đích ý nghĩa của đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Nhiệm vụ luận văn

0.4. Phạm vi đề tài và phương pháp nghiên cứu

0.5. Kết cấu luận văn

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CÁC KHÚC NGÂM

1.1. Tác phẩm “Chinh phụ ngâm”

1.2. Tác phẩm “Cung oán ngâm”

1.3. Tác giả

1.3.1. Đặng Trần Côn

1.3.2. Dịch giả Đoàn Thị Điểm

1.3.3. Nguyễn Gia Thiéu

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CÁC KHÚC NGÂM CUỐI THẾ KỈ XVIII ĐẦU THẾ KỈ XIX

2.1. Quan niệm nghệ thuật về con người

2.2. Thời gian nghệ thuật - Không gian nghệ thuật trong các khúc ngâm

2.3. Ngôn ngữ nghệ thuật

PHẦN KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghệ Thuật Các Khúc Ngâm Cuối Thế Kỷ XVIII Đầu Thế Kỷ XIX

Nghệ thuật các khúc ngâm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX là một giai đoạn quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam. Thời kỳ này chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của thể loại ngâm khúc, với những tác phẩm nổi bật như "Chinh phụ ngâm" và "Cung oán ngâm". Các khúc ngâm không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm của con người mà còn thể hiện những biến động xã hội, chính trị của thời đại. Đặc điểm nghệ thuật của các khúc ngâm này đã tạo nên sức hấp dẫn và giá trị lâu bền trong văn học Việt Nam.

1.1. Đặc Điểm Nghệ Thuật Của Các Khúc Ngâm

Các khúc ngâm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX mang trong mình những đặc điểm nghệ thuật độc đáo. Chúng thường sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, biểu cảm sâu sắc, và thể hiện rõ nét tâm trạng của nhân vật. Nghệ thuật biểu diễn trong các khúc ngâm cũng rất phong phú, từ việc sử dụng âm điệu đến cách thể hiện cảm xúc.

1.2. Tác Phẩm Nổi Bật Trong Thời Kỳ Này

Hai tác phẩm tiêu biểu nhất trong giai đoạn này là "Chinh phụ ngâm" và "Cung oán ngâm". "Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn thể hiện nỗi lòng của người phụ nữ chờ chồng nơi chiến trận, trong khi "Cung oán ngâm" của Nguyễn Gia Thiếu lại là tiếng kêu xé lòng của người cung nữ bị ruồng bỏ. Cả hai tác phẩm đều mang đậm giá trị nhân văn và nghệ thuật.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Nghiên Cứu Nghệ Thuật Khúc Ngâm

Nghiên cứu nghệ thuật các khúc ngâm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn là thiếu tài liệu nghiên cứu chuyên sâu. Nhiều tác phẩm chỉ được đề cập một cách sơ lược, chưa có công trình nào phân tích một cách toàn diện. Điều này khiến cho việc hiểu rõ giá trị nghệ thuật và nội dung của các khúc ngâm trở nên khó khăn.

2.1. Thiếu Tài Liệu Nghiên Cứu Chuyên Sâu

Nhiều tài liệu hiện có chỉ dừng lại ở việc tóm tắt nội dung hoặc phân tích một vài yếu tố nghệ thuật riêng lẻ. Điều này dẫn đến việc thiếu cái nhìn tổng thể về nghệ thuật của các khúc ngâm, làm giảm giá trị nghiên cứu.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Phân Tích Nghệ Thuật

Việc phân tích nghệ thuật của các khúc ngâm đòi hỏi người nghiên cứu phải có kiến thức sâu rộng về văn học, lịch sử và ngôn ngữ. Tuy nhiên, không phải ai cũng có đủ khả năng để thực hiện điều này, dẫn đến việc nhiều khía cạnh nghệ thuật bị bỏ qua.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Đặc Điểm Nghệ Thuật Khúc Ngâm

Để nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật của các khúc ngâm, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Phương pháp lịch sử giúp đặt các tác phẩm vào bối cảnh xã hội, trong khi phương pháp hệ thống giúp phân tích các yếu tố nghệ thuật một cách có tổ chức. Ngoài ra, phương pháp so sánh cũng rất hữu ích để nhận diện sự khác biệt và tương đồng giữa các tác phẩm.

3.1. Phương Pháp Lịch Sử Trong Nghiên Cứu

Phương pháp lịch sử giúp người nghiên cứu hiểu rõ bối cảnh ra đời của các khúc ngâm. Điều này rất quan trọng để nhận diện những ảnh hưởng của xã hội, chính trị đến nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm.

3.2. Phương Pháp So Sánh Giữa Các Tác Phẩm

So sánh giữa các khúc ngâm khác nhau giúp làm nổi bật những đặc điểm nghệ thuật riêng biệt. Qua đó, người nghiên cứu có thể nhận diện được sự phát triển của thể loại ngâm khúc trong thời kỳ này.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Nghệ Thuật Khúc Ngâm

Nghiên cứu nghệ thuật các khúc ngâm không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong giảng dạy văn học. Việc hiểu rõ đặc điểm nghệ thuật giúp giáo viên truyền đạt nội dung một cách sinh động hơn, từ đó kích thích sự hứng thú của học sinh với văn học cổ điển Việt Nam.

4.1. Giáo Dục Văn Hóa Qua Khúc Ngâm

Các khúc ngâm là nguồn tư liệu quý giá để giáo dục văn hóa và lịch sử cho thế hệ trẻ. Chúng giúp học sinh hiểu rõ hơn về tâm tư, tình cảm của con người trong bối cảnh lịch sử cụ thể.

4.2. Tăng Cường Sự Hứng Thú Trong Giảng Dạy

Việc áp dụng các khúc ngâm vào giảng dạy giúp tạo ra không khí học tập thú vị. Học sinh có thể cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn ngữ và nghệ thuật, từ đó phát triển khả năng cảm thụ văn học.

V. Kết Luận Về Nghệ Thuật Các Khúc Ngâm Cuối Thế Kỷ XVIII Đầu Thế Kỷ XIX

Nghệ thuật các khúc ngâm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX là một phần không thể thiếu trong di sản văn học Việt Nam. Những tác phẩm này không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn chứa đựng những thông điệp sâu sắc về con người và xã hội. Việc nghiên cứu và giảng dạy các khúc ngâm sẽ góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.

5.1. Giá Trị Nghệ Thuật Của Các Khúc Ngâm

Các khúc ngâm thể hiện sự kết hợp hoàn hảo giữa nội dung và hình thức nghệ thuật. Chúng không chỉ là những tác phẩm văn học mà còn là những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, phản ánh tâm tư của con người.

5.2. Tương Lai Của Nghiên Cứu Nghệ Thuật Khúc Ngâm

Nghiên cứu nghệ thuật các khúc ngâm cần được tiếp tục mở rộng và sâu sắc hơn. Điều này không chỉ giúp làm sáng tỏ giá trị của các tác phẩm mà còn góp phần vào việc bảo tồn văn hóa dân tộc.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp ngữ văn đặc điểm nghệ thuật các khúc ngâm cuối thế kỉ xviii và đầu thế kỉ xix

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Giới thiệu các khúc ngâm.1 Tác phẩm “Chinh phụ ngâm”.2 Tác phẩm “Cung oán ngâm” 2- Tác giả.1 Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm.2 Nguyễn Gia Thiéu. Chương II: Đặc điểm nghệ thuật các khúc ngâm cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX. I- Quan niệm nghệ thuật về con người. 2- Thời gian nghệ thuật - Không gian nghệ thuật trong các khúc ngâm.

3- Ngôn ngữ nghệ thuật.1 Tượng trưng. Gà SVTH: Trần Thị Thơm Luận văn tốt nghiệp ¬ _ GVHD: TS Lê Thu Yến 3. © Phần kết luận. PHẦN NỘI DUNG CHUONG I: GIỚI THIỆU CÁC KHÚC NGÂM.1 Chỉnh phụ ngâm khúc.

Chinh phụ ngâm là câu chuyện tâm tình của người vợ có chồng đi chỉnh chiến. Khúc ngâm kể về đôi vợ chồng trẻ đang sum vây hạnh phúc thì chiến tranh bất ngờ ap đến. Người chồng, một chang trai “vốn dòng hào kiệt” sẵn sàng nhận lệnh quân vương “xép bút nghiên theo việc dao cung”. Chang ham hở lên đường mong lập chiến công dâng tiến “bé rồng” và thỏa chí làm trai.

Thời gian thấm thoát thoi đưa: một năm. hai năm, rồi ba bốn năm người thiếu phụ đợi chờ - trông ngóng mà chồng nàng vẫn bién biệt cách xa. Nỗi nhớ chồng của người chỉnh phụ cũng từ đó mà nhân lên, mà lan tỏa bao trùm tận nơi chiến địa phương xa. Thương chồng, nhớ chồng, lo cho chồng bao nhiêu, nàng lại càng buồn cho thân phận mình, càng ai oán, bất bình chiến tranh bấy nhiêu.

Trước cuộc sống thực tại khổ đau, cô lẻ nàng nhận ra chân tướng cái gọi là công danh, là phép công. Nàng ân hận vì đã từng tin tưởng hy vọng vào tước phong mà để chồng đi chỉnh chiến cuối cùng trong niềm khát khao mãnh liệt, nàng tưởng tượng ra ngày đoàn tụ lứa đôi và thé là nàng đắm chìm trong hạnh phúc ao tưởng của mình.2 Cung oán ngâm khúc. Nếu “Chinh phụ ngâm” (Dang Trần Côn - Đoàn Thị Điểm) là lời than của người chỉnh phụ có chồng đi chỉnh chiến thì *Cung oán ngâm” (Nguyễn Gia Thiéu) là tiếng kêu xé lòng của người cung nữ dang được vua ngưỡng mo. sing ái bỗng nhiên bị ruồng bỏ.

Trong một đêm thu lạnh. nàng trải lòng mình ra với những nỗi oán duyên, tủi phận. Nàng nghĩ về mình. nghĩ về qúa khứ êm đẹp huy hoàng.

Thuở trước, nàng là một người tài sắc vẹn toàn và nàng cũng tự ý thức được điều đó. Tài sắc của nàng vang lừng trong nước khiến cho bao vương tôn qúy khách khát khao muốn làm bạn với nàng. Vậy mà trong con mắt của mỹ nhân kiêu sa ấy, tất cả chưa xứng đáng để nàng trao thân gửi phận. Nàng nhìn cuộc đời day màu sắc bi quan, định đi tu cho trọn kiếp.

Thế nhưng lửa khát khuo tinh duyên cứ âm Ï trong con người trẻ đẹp tài hoa cla nàng. Nàng đành phó mặc cuộc đời nàng cho ông trời định đoạt. Qua là trời kia run rúi khéo xe duyên mỹ nhân với đấng quân vương. Nàng trở thành cung nữ được vua yêu SVTH: Trần Thị Thơm k Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Lê Thu Yến dấu, được hạnh phúc trong bể ái nguồn ân, được sống nơi lầu oanh gác phượng cao sang, đài các.

Nàng cảm thấy thỏa mãn và kiêu hãnh vô cùng. Ngờ đâu, lòng sting di của vua cứ mỗi ngày một phai nhạt theo thời gian. Cung nữ wi hờn cho mình và oán trách nhà vua, thậm chí có khi nàng uất ức cao độ muốn đạp tiêu phòng để thoát khỏi nỗi đau bị ruồng bỏ. Nàng ân hận thà trước kia lấy một người chồng quê mùa còn hạnh phúc hơn gấp bội.

Nhưng cuối cùng trong tình cảnh ê chế ấy cung nữ vẫn cố gượng dồi phấn xông hương, cố giữ gìn nhan sắc của mình. Bởi vì nàng ảo tưởng rằng: lời oán thán của nàng sẽ động đến “citu ràng” khiến nhà vua nghĩ lại.1 Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm.1 Tác giả Đăng Trần Côn. Là tác giả của “Chinh phụ ngâm” bằng Hán văn, đồng thời cũng là một cây viết vững chãi cuối đời Lê. Ông quê ở làng Nhân Mục (thường gọi là làng Mọc).

huyện Thanh Trì (phía Tây thành Thăng Long) nay là quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông sống cùng thời với chúa Uy vương Trịnh Giang, tức khoảng nửa đầu thế ki XVIII nhưng hiện nay chưa biết đích xác ông sinh năm nào và mất năm nào. Theo học giả Hoàng Xuân Han, Dang Trần Côn có thé sinh vào khoảng 1710— 1720 và mất vào 1745 |9:8,9|. Đặng Trần Côn là người rất hiếu học.

Tương truyền lúc bấy giờ Trịnh Giang có lệnh rất ngặt về sự cấm lửa, ban đêm ông đã kiên trì đào hầm để ngồi đọc sách, làm bài. Ông thi đậu hương cống nhưng thi hội hỏng. Tính ông duénh đoàng phóng túng, không muốn “rang buộc về sự thi cứ”, nên ông đành nhận chức huấn đạo ở trưởng phủ. Sau đó chính thức đổi sang làm tri huyện Thanh Oai.

Ông mất khi làm đến chức ngự sử đài Chiếu khám. Ngay từ hồi trẻ, lời thở phú của ông rất trau gidi, bóng bẩy. Ông thường dùng điển cố một cách uyên thâm. Thi văn của ông được mọi người truyền tụng, học hỏi.

Tác phẩm đều bằng chữ Hán. Ngoài “Chinh phụ ngâm” còn có “Truong Hàn tu thuần lô” (Trương Hàn nhớ sau thuần, cá vược), "7rương Lương bố v” (Trương Lương áo vải), “Khấu môn thanh” (Tiếng gõ cửa) là những bài phú. Về thơ có “Tiêu tương bát cảnh” (Tám cảnh Tiêu Tương). Tất cả những điều nói ở trên đã chứng minh Dang Trần Côn là người tài cao, học rộng đáng để người sau khâm phục, kính trọng.2 Dịch giả Đoàn Thị Điểm.

Từ trước tới nay, dịch phẩm “Chinh phụ ngâm” hiện hành van được cor là của Đoàn Thị Điểm. Không ít nhà nghiên cứu chứng minh ban dịch “Chinh phụ ngâm” đang truyền tụng là của Phan Huy Ích. Tuy nhiên, sự thực về nhận SVTH: Trần Thị Thơm : Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Lê Thu Yến định này vẫn chưa được khẳng định, vì những bằng chứng đưa ra chưa hoàn toàn thuyết phục. Va lại, dù bản dịch hiện hành đó không phải cua Đoàn Thi Điểm đi nữa thì bà vẫn là người đầu tiên dịch “Chinh phụ ngâm” và bản dịch đó có ảnh hưởng thực sự trong sự phát triển của văn học chữ Nôm lúc bấy giờ.

Trên cơ sở đó, tạm thời coi Đoàn Thị Điểm là dịch giả của tác phẩm “Chinh phụ ngâm” đang được lưu truyền, như từ trước tới nay vẫn thừa nhận. Đoàn Thị Điểm hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, quê làng Hiển Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (nay thuộc Hưng Yên), sinh năm 1705, mất năm 1748. bà là con Đoàn Doãn Nghi, em Đoàn Doãn Luân, hai người đều đỗ hương cống nhưng không ra làm quan mà dạy học ở nhà. Bản thân Đoàn Thị Điểm là người phụ nữ nhan sắc đẹp đẽ lại có học vấn cao.

Nhiều người đã hỏi bà làm vợ, trong đó có cả những nhà quyền qúy, bà đều từ chối. Năm 37 tuổi bà nhận lời làm vợ Nguyễn Kiểu, một tiến sĩ đã góa vợ. Lấy nhau chưa đầy một tháng thì chồng bà đi sứ Trung Quốc 3 năm. Cuộc sống của bà trong thời gian này không khác gì người chỉnh phụ.

Nguyễn Kiểu sau khi đi sứ về nước, năm 1748 được cử làm Đốc Đồng trấn Nghệ An. Doan Thị Điểm theo chồng vào đó. trên đường đi bà bị bệnh nặng mất ở Nghệ An ngày 11 tháng 9 năm 1748. Ngoài bản dịch “Chinh phụ ngâm” bà còn là tác giả của tập truyện chi Hán “Truyén kỳ tân pha” và nhiều thơ phú khác.2 Nguyễn Gia Thiéu Nguyễn Gia Thiéu hiệu Hi Tôn Tứ và Như ý Thiền, được phong tước hầu Ôn Như nên thường gọi là Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiéu.

Ong sinh năm 1741 trong một gia đình dai qúy tộc. Quê ở làng Liễu Ngan, Tổng Liễu Lam, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, xứ Kinh Bắc (nay là thôn Liễu Ngạn, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc). Ông thân sinh Nguyễn Gia Thiéu là Nguyễn Gia Ngô (1714 - 1757), một quan võ được phong tước hầu, gọi là Đạt Vũ hầu. Mẹ là quận chúa Quỳnh Liên, con gái An Đô vương Trịnh Cương.

Nguyễn Gia Thiều gọi chúa Trịnh Doanh đang cầm quyền lúc bấygiờ là cậu ruột và là con cô cậu với chúa Trịnh Sâm. Cuộc sống của Nguyễn Gia Thiều gắn bó mật thiết với họ Trịnh. Ngay từ khi lên 5 tuổi, Nguyễn Gia Thiểu đã được Trịnh Doanh đem vào phủ chúa nuôi cho ăn học. Từ nhỏ đến khi trưởng thành, Nguyễn Gia Thiéu đều sống trong phủ chúa, được hưởng nhiều ơn của chúa Trịnh, được sống trong công danh hiển qúy.

Ông nổi tiếng là người thông minh. Không những ông hiểu sâu biết rộng về sử học, văn học, triết học mà còn rất tỉnh thông nhiều bộ môn nghệ thuật: âm nhạc, hội họa, trang trí kiến trúc.chỉ cần tìm hiểu những sáng tác văn học cla Nguyễn Gia Thiéu ta đã thấy vốn tri SVTH: Trần Thị Thơm ủ Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Lê Thu Yến thức nghệ thuật của ông thật tinh tế, sâu rộng. Nguyễn Gia Thiéu rất được chúa tin yêu, thường làm quan trong vương phú. Năm 18 tuổi ông đã được giữ chức hiệu úy.

Năm 26 tuổi, thăng chỉ huy Đồng tri. Năm 30 tuổi, thăng tổng binh đồng tri. Thời gian nay ông lập được một số quân công nên được phong tước hầu, gọi là Ôn Như hầu. Năm 1782 ông được cử đi trấn thủ xứ Hưng Hóa.

Nhiều người cho rằng giai đoạn này chúa Trịnh không tin ông như trước nữa. Trong những năm sau đó, ông thường về nghỉ tại nhà riêng cạnh Hồ Tây "nghiên cứu đạo Tiên đạo Phật, lại cùng với danh sĩ đương thời kết làm bạn thơ, bạn rượu để vui chơi” (Dương Quảng Hàm). Thời gian này ông lấy hiệu là Hi Tôn Tử và Như Ý Thién. Phần lớn sáng tác của Nguyễn Gia Thiéu ra đời trong giai đoạn này.

Đến 1786 Tây Sơn kéo quân ra Bắc diệt Trịnh. ông trốn lên vùng rừng núi xứ Hưng Hoá. Năm 1789 Nguyễn Huệ đại thắng quan Thanh, lập lên triéu đại mới và kêu gọi đám quan lại cựu triều ra cộng tác với mình. Nguyễn Gia Thiéu được mời nhưng ông cáo bệnh từ chối.

Nguyễn Gia Thiéu lui về ở an nơi qué nhà, hang ngày uống rượu tieu sau, giả ngây giả dại và đến ngày 22 tháng 6 năm 1798 (tức ngày 9 tháng 5 năm Mậu Ngọ) thì qua đời, lúc ấy mới 58 tuổi. Ông để lại một sự nghiệp sáng tác đồ sộ với hàng nghìn bài thơ trong hai tập thơ chữ Hán "Ôn Như thi tập” (thượng và hạ). Thơ Nôm có “Tây Hồ thi tập” và “Tứ Trai thi tập”. Nhưng đáng tiếc là ngoài tác phẩm nổi tiếng “Cung oán ngâm” ra thì chỉ tìm thấy một vài bài còn sót lại chép trong tập “Tap ky” của Lý Văn Phức.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghệ Thuật Các Khúc Ngâm Cuối Thế Kỷ XVIII Đầu Thế Kỷ XIX" khám phá sự phát triển và đặc trưng của các khúc ngâm trong giai đoạn lịch sử này, nhấn mạnh vai trò của chúng trong văn hóa và nghệ thuật Việt Nam. Tác phẩm không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về kỹ thuật và phong cách của các tác giả nổi bật mà còn giúp độc giả hiểu rõ hơn về bối cảnh xã hội và tâm tư của con người thời kỳ đó.

Để mở rộng thêm kiến thức về văn học và nghệ thuật, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn đất và người xứ huế trong ký của hoàng phủ ngọc tường, nơi khám phá những ký ức và cảm nhận về quê hương, hay Luận văn văn hóa tâm linh trong truyện kiều và văn chiêu hồn của nguyễn du, giúp bạn hiểu thêm về các yếu tố tâm linh trong văn học. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ xuân diệu từ quan niệm nghệ thuật đến sáng tạo thơ sẽ mang đến cái nhìn sâu sắc về nghệ thuật thơ ca và sự sáng tạo của một trong những nhà thơ vĩ đại nhất Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị của văn học Việt Nam.