Luận Văn Thạc Sĩ Về Ngân Sách Nhà Nước Mỹ và Chính Sách Khoa Học Công Nghệ Gợi Ý Cho Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueb ngân sách nhà nước mỹ với việc thực hiện chính sách khoa học công nghệ gợi ý cho việt nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp

Chuyên ngành

Kinh Tế Đối Ngoại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2009

119
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

1.1. Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng KHCN hiện đại

1.2. Tính rủi ro của nghiên cứu triển khai

1.3. Phạm vi lĩnh vực triển khai của cuộc cách mạng KHCN đại rộng lớn và đa dạng

1.4. Nhu cầu kết cấu hạ tầng, trang thiết bị nghiên cứu KHCN phải có trình độ kỹ thuật công nghệ cao và ngày càng mới mẻ

1.5. Những giới hạn của lực lượng thị trường

1.6. Những khác biệt giữa thị trường và phát triển khoa học

1.7. Mặt trái của độc quyền

1.8. Cạnh tranh quyết liệt trên thị trường trong nước và thế giới, những nhu cầu về an ninh quốc gia

1.9. KHCN đều được xem là cơ sở và động lực cho sự tiến bộ kinh tế và tiềm lực quốc gia

1.10. Cạnh tranh ở các cấp độ ngày càng trở nên quyết liệt

1.11. Những nhu cầu quốc phòng an ninh quốc gia

1.12. Những yêu cầu của nền kinh tế rất hiện đại đã hình thành

1.13. Chuyển đổi mô hình phát triển

1.14. Phải có KHCN tiên tiến mới đảm bảo vị trí có lợi trong cạnh tranh quốc tế

1.15. Mỹ đã có cơ sở cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao

1.16. Sự phát triển của giáo dục và đào tạo

1.17. Chính sách nhập cư và phát triển KHCN

1.18. Tầm quan trọng của chính sách KHCN

1.19. Nhận thức của xã hội và giới tinh hoa

1.20. Chức năng của chính sách KHCN

1.21. Kết luận của chương

2. CHƯƠNG 2: NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỚI VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỸ

2.1. Đặc điểm và nhiệm vụ chủ yếu của chính sách khoa học nghệ Mỹ

2.2. Giai đoạn trước thập kỷ 1990

2.3. Giai đoạn những năm 1990

2.4. Giai đoạn sau thập kỷ 1990

2.5. Đánh giá tổng quát về đặc điểm và nhiệm vụ chính sách KHCN qua các thời kỳ

2.6. Một vài nét khái quát về đặc điểm chính sách KHCN trong ngân sách của chính phủ liên bang Mỹ

2.7. Quy mô của chi cho R&D trong ngân sách chính phủ liên bang và trong GDP

2.8. Đặc điểm khái quát nhà nước tài trợ cho R&D

2.9. Cơ chế tài trợ ngân sách cho R&D

2.10. Cơ chế xác định các ưu tiên của chính sách KHCN

2.11. Cơ chế tài trợ cho R & D trong chính sách khoa học và công nghệ

2.12. Đánh giá, thẩm định kết quả, sự lựa chọn ưu tiên và các chương trình, dự án

2.13. Tầm quan trọng của vấn đề

2.14. Tổ chức thẩm định

2.15. Hoàn thiện không ngừng cơ chế hiện thực hoá chính sách KHCN – cơ chế kinh tế đổi mới công nghệ

2.16. Đổi mới quan điểm tài trợ theo chương trình

2.17. Hoàn thiện mối quan hệ giữa các thành viên tham gia quá trình làm R&D, những hình thức huy động vốn cho việc thực hiện chính sách KHCN

2.18. Kích hoạt chính sách khấu hao linh hoạt vốn cố định

2.19. Một số kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC PHỤC VỤ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỸ VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHO VIỆT NAM

3.1. Kinh nghiệm của Mỹ trong lĩnh vực sử dụng ngân sách để thực hiện chính sách KHCN Mỹ

3.2. Về mặt quan điểm

3.3. Về mặt thực tiễn chính sách

3.4. Một số gợi ý cho VN xuất phát từ kinh nghiệm Mỹ

3.5. Thực trạng tài trợ cho R&D của VN để thực hiện chính sách KHCN

3.6. Một vài gợi ý cho Việt Nam xuất phát từ kinh nghiệm Mỹ về việc sử dụng ngân sách thực hiện chính sách KHCN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Ngân sách Nhà nước Mỹ và Chính sách Khoa học Công nghệ

Ngân sách nhà nước Mỹ đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách khoa học công nghệ. Sự phát triển của khoa học công nghệ đã trở thành động lực chính cho sự tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống. Chính sách này không chỉ tập trung vào việc tài trợ cho nghiên cứu và phát triển (R&D) mà còn tạo ra môi trường thuận lợi cho sự đổi mới sáng tạo. Việc phân bổ ngân sách cho các lĩnh vực khoa học công nghệ đã giúp Mỹ duy trì vị thế hàng đầu trong nền kinh tế toàn cầu.

1.1. Vai trò của Ngân sách Nhà nước trong phát triển KHCN

Ngân sách nhà nước là nguồn lực chính để tài trợ cho các dự án nghiên cứu và phát triển. Chính phủ Mỹ đã xác định rõ ràng các ưu tiên trong việc phân bổ ngân sách cho các lĩnh vực khoa học công nghệ, từ đó thúc đẩy sự đổi mới và phát triển bền vững.

1.2. Tác động của Chính sách KHCN đến nền kinh tế Mỹ

Chính sách khoa học công nghệ đã tạo ra những bước tiến lớn trong nền kinh tế Mỹ. Các nghiên cứu và phát triển không chỉ nâng cao năng suất lao động mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội.

II. Những thách thức trong việc sử dụng Ngân sách Nhà nước cho KHCN

Mặc dù ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng, nhưng việc sử dụng ngân sách cho khoa học công nghệ cũng gặp nhiều thách thức. Tính rủi ro trong nghiên cứu và phát triển, cũng như sự cạnh tranh gay gắt giữa các lĩnh vực, đã tạo ra áp lực lớn cho chính sách này. Việc xác định các ưu tiên và phân bổ ngân sách một cách hợp lý là rất cần thiết để đảm bảo hiệu quả.

2.1. Tính rủi ro trong nghiên cứu và phát triển

Nghiên cứu và phát triển thường gặp phải những rủi ro không thể dự đoán trước. Các dự án có thể không đạt được kết quả như mong đợi, dẫn đến lãng phí ngân sách và nguồn lực.

2.2. Cạnh tranh giữa các lĩnh vực KHCN

Sự cạnh tranh giữa các lĩnh vực khoa học công nghệ ngày càng gia tăng, đòi hỏi chính phủ phải có những quyết định khó khăn trong việc phân bổ ngân sách. Điều này có thể dẫn đến việc một số lĩnh vực quan trọng bị bỏ qua.

III. Phương pháp tài trợ cho KHCN trong Ngân sách Nhà nước Mỹ

Mỹ đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để tài trợ cho nghiên cứu và phát triển. Các cơ chế tài trợ này không chỉ giúp phân bổ ngân sách một cách hiệu quả mà còn đảm bảo rằng các dự án nghiên cứu được thực hiện đúng hướng và đạt được kết quả mong đợi.

3.1. Cơ chế tài trợ ngân sách cho R D

Cơ chế tài trợ ngân sách cho R&D bao gồm việc xác định các ưu tiên nghiên cứu, lựa chọn các dự án phù hợp và đánh giá kết quả. Điều này giúp tối ưu hóa việc sử dụng ngân sách nhà nước.

3.2. Đổi mới quan điểm tài trợ theo chương trình

Việc đổi mới quan điểm tài trợ theo chương trình giúp chính phủ Mỹ tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách cho khoa học công nghệ.

IV. Kinh nghiệm của Mỹ trong việc sử dụng Ngân sách cho KHCN

Kinh nghiệm của Mỹ trong việc sử dụng ngân sách nhà nước cho khoa học công nghệ có thể là bài học quý giá cho Việt Nam. Việc áp dụng các phương pháp tài trợ hiệu quả và xác định rõ các ưu tiên sẽ giúp Việt Nam phát triển bền vững trong lĩnh vực khoa học công nghệ.

4.1. Những bài học từ chính sách KHCN của Mỹ

Việc xác định rõ ràng các ưu tiên trong chính sách KHCN đã giúp Mỹ duy trì vị thế hàng đầu trong lĩnh vực này. Việt Nam có thể học hỏi từ cách tiếp cận này để phát triển khoa học công nghệ.

4.2. Ứng dụng thực tiễn cho Việt Nam

Việt Nam cần áp dụng những kinh nghiệm từ Mỹ để cải thiện việc sử dụng ngân sách nhà nước cho khoa học công nghệ, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của KHCN tại Việt Nam

Việc nghiên cứu và áp dụng kinh nghiệm từ Mỹ trong việc sử dụng ngân sách nhà nước cho khoa học công nghệ là rất cần thiết. Điều này không chỉ giúp Việt Nam phát triển bền vững mà còn nâng cao vị thế trong cộng đồng quốc tế. Tương lai của khoa học công nghệ tại Việt Nam phụ thuộc vào khả năng áp dụng những bài học quý giá từ các nước phát triển.

5.1. Tương lai của chính sách KHCN tại Việt Nam

Chính sách khoa học công nghệ tại Việt Nam cần được điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn và nhu cầu phát triển. Việc áp dụng các bài học từ Mỹ sẽ giúp Việt Nam đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

5.2. Định hướng phát triển KHCN trong tương lai

Định hướng phát triển khoa học công nghệ trong tương lai cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng nghiên cứu và phát triển, đồng thời đảm bảo sự hợp tác giữa nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb ngân sách nhà nước mỹ với việc thực hiện chính sách khoa học công nghệ gợi ý cho việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Lĩnh vực nghiên cứu khoa học, triển khai và đưa vào ứng dụng (lĩnh vực R&D) các thành tựu của KHCN đã trở thành một trong những đối tượng tác động cực kỳ quan trọng của nhà nước tới sự phát triển kinh tế xã hội tại các xã hội hiện đại phát triển cao, đặc biệt là tại Mỹ. Ở đây, kể từ đầu chiến tranh thế giới thứ hai và toàn bộ các thời kỳ lịch sử cụ thể sau đó đều có những điều chỉnh về phương hướng, mục tiêu, những biện pháp và cơ chế thực hiện nhất định được thể hiện rõ trong chính sách KHCN của các chính quyền Mỹ kế tiếp nhau do những người dân chủ hay cộng hòa chiếm địa vị chi phối. Từ đây nhà nước trở thành một chủ thể ngày càng đóng vai trò quyết định sự phát triển KHCN và chính sách KHCN trở thành một trong những bộ phận cấu thành của chính sách kinh tế vĩ mô và nhà nước đã dành những khoản chi ngân sách to lớn, phù hợp cho việc thực hiện chính sách này. Chương này sẽ xem xét một số nhân tố quan trọng nhất tạo nên cơ sở khách quan quy định việc sử dụng ngân sách nhà nước để thực hiện chính sách KHCN của Mỹ trong những điều kiện hiện đại.

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng KHCN hiện đại 1. Tính rủi ro của nghiên cứu triển khai Giá trị kinh tế của các công trình nghiên cứu, triển khai thường khó có thể dự báo chính xác, tính bất trắc là một thực tế khách quan trước các công trình nghiên cứu mới mẻ, sáng tạo về lý thuyết cũng như ứng dụng. Những công trình nghiên cứu và triển khai càng phải huy động nhiều sức của, sức người thì rủi ro ngày càng lớn, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi mà cuộc cách mạng KHCN hiện đại đã và đang triển khai trên hầu khắp các lĩnh vực tri thức và ứng dụng thực tế. Đã vậy những thành tựu khoa học, công nghệ không phải bao giờ cũng được hiện thực hóa nhanh và nhiều khi vì nhiều lý do khác nhau bị găm lại trong -7- một thời gian – đồng thời, không ít công trình nghiên cứu gặp rủi ro, không đạt được mục tiêu mong đợi.

Thêm nữa, ngày nay sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và sự vận dụng thực tiễn và thương mại mau lẹ những thành tựu của chúng đã khiến cho mối liên hệ giữa nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau, chúng vừa là tiền đề vừa là điều kiện của nhau. Chia sẻ rủi ro, bất trắc trong nghiên cứu khoa học, chế tạo thử nghiệm và ứng dụng thực tiễn rộng rãi, trở thành một tất yếu khách quan giữa các chủ thể hoạt động chính trong nền kinh tế hiện đại mà tiêu biểu là khu vực nhà nước, khu vực kinh doanh và học thuật trong lĩnh vực R&D. Do vậy việc nhà nước tham gia vào lĩnh vực R&D trở thành tất yếu và nhiều trường hợp đóng vai trò động lực, tiên phong tùy theo tầm mứcquan trọng của phương hướng nghiên cứu và triển khai đối với sự phát triển của KHCN, của cạnh tranh hay an ninh quốc phòng. Phạm vi lĩnh vực triển khai của cuộc cách mạng KHCN đại rộng lớn và đa dạng Trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau đặc biệt là kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, cuộc cách mạng KHCN hiện đại đã tạo ra những bước nhảy vọt trong hầu hết khắp các lĩnh vực tri thức khoa học và công nghệ từ lý thuyết đến thực tiễn nhờ vậy loài người đã ngày càng chuyển mạnh từ nền văn minh nông nghiệp và nền văn minh công nghiệp sang nền văn minh hậu công nghiệp.

Bản thân việc nghiên cứu và triển khai cũng được thực hiện trên những nên tảng mới mà không một lực lượng kinh tế xã hội nào riêng biệt có thể tự mình đảm bảo được sự phát triển ngày càng sâu rộng trên toàn bộ lĩnh vực tri thức KHCN và ứng dụng thực tiễn, chỉ có phối hợp và phân công giữa nhà nước, giới kinh doanh và giới khoa học đại học mới có thể đảm bảo được sự phát triển của KHCN và ứng dụng thực tiễn trong điều kiện hiện nay. Nhu cầu kết cấu hạ tầng, trang thiết bị nghiên cứu KHCN phải có trình độ kỹ thuật công nghệ cao và ngày càng mới mẻ Thời của nghiên cứu khoa học được thực hiện chỉ trong các phòng thí nghiệm riêng biệt với những ống nghiệm, cân tiểu ly, những dụng cụ thủ công đã qua rồi. Hoạt động KHCN ngày nay không chỉ đơn thuần là công việc của những nhà khoa học riêng rẽ với những công cụ đơn giản này. Cuộc cách mạng KHCN hiện đại đòi hỏi kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội phục vụ R&D phải được hiện đại hoá và ở những lĩnh vực cần thiết (như công nghệ tự động hoá, công nghệ điện – điện tử, công nghệ vật liệu, công nghệ vũ trụ, công nghệ thông tin, công nghệ năng lượng…) phải được trang bị công cụ hiện đại ở trình độ cao, những nguồn nhân lực tham gia thực hiện R&D phải được đào tạo bài bản và có chất lượng đảm bảo riêng cho lĩnh vực R&D cũng như cho việc ứng dụng rộng rãi những thành tựu của nó vào đời sống kinh tế xã hội.

Không có sự tham gia của nhà nước bên cạnh các chủ thể khác của đời sống kinh tế khó có thể phát triển được đồng bộ và đưa được những thành tựu của nó vào ứng dụng thực tế một cách hiệu quả dưới góc độ kinh tế, xã hội ở bất kỳ quốc gia nào, kể cả nước như Hoa Kỳ hiện đang là nước duy nhất có đủ tiềm năng tự mình triển khai cuộc cách mạng KHCN hiện đại trên hầu khắp các lĩnh vực từ nghiên cứu cơ bản đến nghiên cứu ứng dụng và thương mại hoá các thành tựu của R&D. Những giới hạn của lực lượng thị trường Lý thuyết kinh tế thị trường hiện đại đánh giá cao tác động của các lượng thị trường đối với cạnh tranh vốn được xem là động lực của tiến bộ KHCN và kinh tế. Tuy nhiên do những đặc điểm riêng của các lực lượng thị trường, chúng cũng có những mặt giới hạn buộc nhà nước phải tham gia trong lĩnh vực R&D để tháo tháo gỡ ách tắc. Những khác biệt giữa thị trường và phát triển khoa học Chỉ bằng lực lượng thị trường không thể khuyến khích thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của khoa học, công nghệ hiện đại.

Một mặt, mục tiêu hoạt động của các lực lượng thị trường là lợi nhuận và hơn nữa là lợi nhuận siêu ngạch, lợi nhuận tối đa. Vậy mà như ở trên đã đề cập, do tính chất của hoạt động R&D, các dự án, chương trình của nó không phải bao giờ cũng đảm bảo đạt được mục tiêu kinh tế, kịp thời. Đã thế rủi ro rất có thể xảy ra. Mặt khác, mục tiêu của các lực lượng thị trường không phải bao giờ cũng đồng nhất với mục tiêu phát triển tự thân của khoa học và công nghệ, đặc biệt những công trình nghiên cứu lý thuyết cơ bản về khoa học và công nghệ nhiều khi phải thực hiện trong thời gian dài mà kết quả mong muốn không thể đảm bảo đạt được trong ngắn hạn.

Trong khi đó, những thành tựu của khoa học hiện đại là cơ sở lý thuyết và thực tiễn không thể thiếu của sự hình thành và phát triển của các ngành sản xuất (vật thể và phi vật thể) mũi nhọn. Phân tán là một đặc trưng khác của lực lượng thị trường và điều này khiến không một thành phần nào của thị trường đứng riêng rẽ có thể tự mình thoả mãn được mọi yêu cầu cần thiết về nhân lực, tài lực, vật lực đối với hoạt động R&D đồng bộ trên tất cả các hướng, dù cho chỉ là những hướng chủ yếu của tiến bộ KHCN hiện đại. Mặt trái của độc quyền Tập trung và sự hình thành những công ty lớn (độc quyền và không độc quyền) là một đặc trưng của kinh tế thị trường hiện đại, một động lực khác của tiến bộ khoa học, công nghệ và kinh tế nhưng cũng có mặt hạn chế của nó cần phải vượt qua với sự tham dự của nhà nước. Những công ty lớn có địa vị chi phối giành được trên thị trường nên nhiều khi là nhân tố kìm hãm cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ KHCN.

Đây là lý do khiến rất nhiều phát minh, sáng chế ở Mỹ bị găm lại tại các công ty lớn -10- Những nhà tư bản riêng rẽ ngay cả những công ty lớn dù đó là những công xuyên quốc gia có tiềm lực rất lớn về nhiều mặt cũng không đáp ứng đủ nhu cầu phát triển đồng bộ của khoa học, công nghệ hiện đại. Cạnh tranh quyết liệt trên thị trường trong nước và thế giới, những nhu cầu về an ninh quốc gia Các xu hướng biến chuyển chủ đạo của nền kinh tế thế giới trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay dưới tác động của sự phân cực thế giới (từ hai cực Xô Mỹ đến phân cực sau chiến tranh lạnh), sự tiến triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng KHCN sang giai đoạn mới của nó lấy cách mạng công nghệ thông tin truyền thông làm then chốt, toàn cầu hoá đã làm cho cạnh tranh ở trong nước và trên phạm vi thế giới ngày càng trở nên sâu sắc. Do đó các quốc gia đều phải ra sức chạy đua phát triển tổng lực quốc gia một cách toàn diện chứ không chỉ đơn thuần dựa vào sức mạnh quân sự (hoặc quá nhấn mạnh sức mạnh quân sự như thời kỳ chiến tranh lạnh). Việc xây dựng sức mạnh kinh tế ngày càng nổi bật hơn được xem như nền tảng sức mạnh của đất nước được các nước coi trọng.Clintơn khi làm tổng thống đã ví sự tập trung vào chính sách kinh tế của Ông như sự tập trung của tia lade, chính sách phát triển của các nước hầu như đều tập trung vào kinh tế.

KHCN đều được xem là cơ sở và động lực cho sự tiến bộ kinh tế và tiềm lực quốc gia Hầu như tất cả các nước, đặc biệt là những nước phát triển và những nước mới nổi lên đã duy trì và hoặc tăng thêm chi tiêu cho hoạt động nghiên cứu trên qui mô lớn. Từ khoảng 1 – 2,62% GDP (2005) (Bảng 1.1) đặc biệt là Mỹ theo tạp chí Quốc phòng của chính phủ Pháp năm 1998 đã thực hiện chiến lược công nghệ chủ quyền quốc gia và được các chính quyền Mỹ kế tiếp nhau từ thời B.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ