Đặt vấn đề kiểm chế lạm phát và hỗ trợ tăng năm 1999, tăng trưởng chỉ còn là Trong những năm gần đây, kinh trưởng kinh tế trong thời gian tới. 4,8% kèm theo hiện tượng giảm tế Việt Nam đang phải đối mặt phát những năm sau đó. Trong bối với nhiều bất ổn kinh tế vĩ mô 1. Tăng trưởng kinh tế cảnh đó, Chính phủ đã thực hiện như tốc độ tăng trưởng chậm lại Những cải cách kinh tế quan chính sách nới lỏng tín dụng và (mức bình quân 8,2% giai doạn trọng vào năm 1986 chuyển từ kích thích mở rộng đầu tư từ năm 2004 - 2007, giảm xuống khoảng nên kinh tế kế hoạch hóa tập 2000, đồng thời ký kết quan hệ gần 6% giai đoạn 2008 - 2011), trung sang nên kinh tế thị trường trao đổi thương mại song phương thâm hụt ngân sách lớn (khoảng định hướng xã hội chủ nghĩa đã Mỹ 7/2000.
Kết quả là kinh tế đã trên 5% GDP) và tý lệ lạm phát giúp Việt Nam đạt được mức tăng phục hồi trên đà tăng trưởng cao, tăng cao ở mức hai con số (bình trưởng kinh tế cao. Theo báo cáo nhưng đi kèm là tỷ lệ lạm phát quân khoảng gần 13% trong giai của Ngân hàng Thế giới, GDP tăng lên. Xem xét các thực tế Việt Nam tăng nhanh hơn Hơn nữa, sự kiện Việt Nam nguyên nhân dẫn đến những bất các quốc gia khác với mức tăng chính thức trở thành thành viên ổn này, chúng ta thấy rằng bên trưởng trung bình giai đoạn 1990 - thứ 150 của tổ chức thương mại cạnh những tác động bên ngoài 2009 là 7,32%. (Biểu đồ 1) quốc tế (WTO) tháng 11/2006 đã từ cuộc khủng hoảng kinh tế tài Vào những năm đầu thập kỷ mở đường cho sự tự do hóa thị chính toàn cầu bùng phát năm 1990, kinh tế Việt Nam đạt được trường lớn hơn và làm dấy lên làn 2008; phải kể đến các nguyên mức tăng trưởng cao, đặc biệt sóng đầu tư nước ngoài vào Việt nhân chủ quan thuộc về công tác những năm 1992 và 1997 gần 9%.
Nam, lượng ngoại tệ đầu tư trực quản lý tài khóa thiếu hiệu quả Tuy nhiên, đà tăng trưởng chậm tiếp, gián tiếp, vay nợ nước ngoài của Việt Nam, từ phương pháp lại vào cuối thập kỷ này do những đã tăng đỉnh điểm gấp 13 lần năm tính toán, hạch toán ngân sách ảnh hưởng của khủng hoảng tài 2000. Lúc này, để duy trì khả năng không theo thông lệ quốc tế, quá chính Châu Á năm 1997. Kết thúc cạnh tranh hàng xuất khẩu, ổn trình quản lý phân bổ các khoản Năm 2012, cũng là năm mà mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, chi tiêu công nhiều bất cập đến ổn định kinh tế vĩ mô được đặt lên hàng đầu công tác huy động, gia tăng nguồn thu ngân sách chưa bền vững. Trước bối cảnh trên của nền kinh tế, trong phạm vi bài viết, tác giả sẽ tổng hợp lại toàn bộ thực trạng tăng trưởng kinh tế, thâm hụt ngân sách của Việt Nam từ năm 1990 đến nay để đưa ra một góc nhìn toàn diện về tăng trưởng kinh tế, thâm hụt ngân sách trong mối quan hệ với lạm phát cả trên phương diện lý thuyết cũng như thực tế.
Trên cơ sở đó, tác giả sẽ đưa ra một số hàm ý chính sách nhằm giảm thâm hụt ngân sách, * Khoa Ngan hang - Hoc vién Ngan hang PỔÏ TẠP Chí NGÂN HÀNG | số 8 | THÁNG 4/2012 NHUNG VAN DE KINH TE Vi MO chinh sach tién té that chat kiém Biểu đồ 1: Tăng trưởng GDP và lạm phát chế lạm phát của Ngân hang Nha giai đoạn 1990 - 2012 nước từ năm 2011, hàng tôn kho 12.00 tăng cao đặc biệt là tổn kho bất - 70.00 động sản, nhiều doanh nghiệp 10.00 ă = phá sản (theo Bộ Kế hoạch và - 60.00 nghiệp phá sản từ đầu năm 201 1 6.00 — a đến cuối quý I/2012), nhiều tập - 30.00 đoàn Nhà nước thua lỗ lớn tại 4.00 Vinalines, Vinashin, EVN, Tổng = 10.00 | he H i F công ty Ximăng Việt Nam Vicem, | - 0.00 tập đoàn Sông Đà,. Ngoài ra, do đà giảm kinh tế toàn cầu khiến 2009 | © ¡ m <t na DÐ >> 00A O 2010 2011 2007 2008 2012 NDANAAAAMAAAAA YD ñA œ add œ Ơn dtd dtd aA œ0 dtd 0 nã na na O A dòng vốn đầu tư nước ngoài vào gam GDP ——lLam phát Việt Nam giảm xuống (thu hút đầu tư nước ngoài từ đầu năm Nguồn: ADB (2012) và Tổng cục Thống kê (2012) 2012 đến 20/4/2012 chỉ bằng Báng 1: Tăng trưởng GDP và lam phat 68,5% so với cùng kỳ năm trước, Năm -1990. vốn thực hiện giảm 0,3% so với Lam phat (%) '67.80 | cùng kỳ năm trước), xuất khẩu GDP (%) 5.90 Việt Nam cũng giảm mạnh do nhu cầu tiêu thụ của nước ngoài Năm. | giảm, một số mặt hàng xuất khẩu Lam phat (%) | 4.03 chủ lực như dầu thô giảm 3,1%; Neudn: ADB (2012) va Tong cục Thống kê (2012) cà phê giảm 7,9%; cao su giảm định tương đối tỷ giá và hạn chế vào, gây áp lực lạm phát tăng cao 8,3%; than đá giảm 12,2%; gạo gia tăng nghĩa vụ nợ nước ngoài ở mức 2 con số vào năm 2007 giảm 27,8%.
của Chính phủ và doanh nghiệp (12,6%) và năm 2008 (19,89%). Năm 2012, cũng là năm mà quy đổi bằng VND, Ngân hàng Thêm vào đó, khủng hoảng kinh mục tiêu ưu tiên kiểm chế lạm Nhà nước đã cung lượng tién tế toàn cầu vào năm 2008 ảnh phát, ổn định kinh tế vĩ mô được VND để mua một lượng ngoại tệ hưởng tới sự ổn định kinh tế vĩ mô đặt lên hàng đầu. Theo đó, Chính của Việt Nam, cụ thể là bội chỉ phủ tiếp tục thực hiện chính sách ngân sách lớn, nợ công tăng cao, tài khóa thắt chặt, giảm đầu tư thâm hụt cán cân vãng lai, tốc độ công, giảm bội chi ngân sách; tăng trưởng chậm lại 6,78% năm Ngân hàng Nhà nước thực hiện 2010 và 5,9% năm 2011 mặc điều hành chính sách tiển tệ thắt dù Chính phủ đã có những biện chặt và linh hoạt; Bộ Tài chính pháp kích cầu để thúc đẩy tăng tiếp tục lộ trình quản lý, diéu trưởng, chống suy giảm kinh tế. hành giá theo cơ chế thị trường, Đồng thời với đó là lạm phát tăng kiểm soát chặt chẽ giá độc quyển, cao, kết thúc năm 2010 và 2011, chống bán phá giá, đảm bảo cân lạm phát lần lượt ở mức 11,75% đối cung - cầu hàng hóa.
thúc năm, chúng ta đã thành công Sang năm 2012, tăng trưởng khi giữ mức lạm phát ở mức một kinh tế ở mức 5,03%, đã giảm con số 6,81%. Mặc dù mức tăng khoảng 0,87% so với năm 2011. trưởng thấp, nhưng theo đánh Nguyên nhân của tình trạng này giá của Tổng cục Thống kê trong xuất phát từ suy giảm tổng cầu do bối cảnh kinh tế thế giới gặp khó TẠP CHÍ NGÂN HÀNG | SỐ 8 | THÁNG 4/2013 ] L-°1 NHỮNG VẤN DE KINH TE Vi MO khăn, cả nước tập trung thực hiện (giai đoạn trước 1992). Còn nên nhập giảm dẫn tới tiêu dùng giảm, mục tiêu kiểm chế lạm phát thì kinh tế duy trì một tỷ lệ lạm phát đầu tư cũng giảm vì rủi ro cao tất đây được xem là mức tăng hợp lý.
thấp có tác dụng hỗ trợ tăng trưởng yếu làm chậm tăng trưởng kinh tế. Mối quan hệ tăng trưởng kinh tế (giai đoạn 1992 - 2007). Có quan Như vậy, quan điểm sử dụng lạm và lạm phát điểm cho rằng để đạt được mục phát cao để thúc đẩy tăng trưởng Xem xét về mặt lý thuyết, lạm tiêu tăng trưởng thì chấp nhận một kinh tế có tác dụng giúp kinh tế phát vừa có tác động tích cực và tỷ lệ lạm phát cao. Khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng không thiếu tích cực tới tăng trưởng kinh chưa đạt đến sản lượng tiểm năng, bển vững (còn gọi là giải pháp tế.
Một tỷ lệ lạm phát thấp có tác các chính sách thúc đẩy tổng cầu tăng trưởng “bong bóng”), gây hậu dụng thúc đẩy tăng trưởng. Theo như gia tăng tiêu dùng, đẩy mạnh quả tiêu cực đến đời sống dân cư, nghiên cứu của Tobin (1965), đầu tư trong khu vực công và khu đặc biệt là tầng lớp thu nhập thấp. Mundell (1965) mối quan hệ giữa vực tư nhân, khuyến khích xuất Trong nhiều năm trở lại đây, lạm lạm phát và tăng trưởng là tỷ lệ khẩu sẽ góp phần đạt mục tiêu phát Việt Nam luôn ở mức cao, thuận. Các nghiên cứu này cũng tăng trưởng kinh tế và phải chấp câu hỏi đặt ra là phải chăng sản trùng với quan điểm của trường nhận mặt bằng giá cả hàng hóa lượng nền kinh tế đã vượt mức phái Keynes và trường phái tiền dịch vụ cao hơn.
Chính diéu nay tiểm năng, nên các chính sách tệ khi cho rằng trong ngắn hạn, làm cho các nhà hoạch định chính kích thích kinh tế của Chính phủ các chính sách nhằm hỗ trợ tăng sách tin rằng lạm phát có lợi hơn (gói kích cầu thứ nhất hỗ trợ lãi trưởng của Chính phủ sẽ làm gia là có hại cho nên kinh tế (đặc biệt suất trị giá 1 tỷ USD và gói kích tăng lạm phát. tỷ lệ lạm phát ở mức một con số), cầu 2 trị giá 8 tỷ USD nhằm ngăn Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát cao sẽ đó là khi lạm phát tăng khiến các chặn suy giảm kinh vào cuối năm tác động tiêu cực lên tăng trưởng. chủ thể giảm thói quen giữ tiễn 2008 - 2009) khiến lạm phát tăng Lạm phát gây giảm sút tống cầu, mặt, thay vào đó sẽ chi tiêu, đầu mạnh trong khi sản lượng không gia tăng thất nghiệp, nó gây ra sự tư nhiều hơn, thúc đẩy sản xuất đạt mục tiêu? Theo đánh giá của bất ổn cho môi trường kinh tế xã kinh doanh, hỗ trợ tăng trưởng IMF (2006) thì kể từ năm 2005, hội, làm thông tin trong nền kinh nhanh. Tuy nhiên, khi nền kinh tế kinh tế Việt Nam có dấu hiệu sự tế bị bóp méo, khiến các quyết đã đạt sản lượng tiểm năng, sự gia gia tăng sản lượng vượt mức tiềm định đầu tư, tiêu dùng, tiết kiệm tăng tổng cầu sẽ chỉ làm giá tăng năng (những năm trước đó, mối trở nên khó khăn hơn; lạm phát lên mà không làm tăng sản lượng quan hệ này thể hiện không nhất được xem như một loại thuế đánh nền kinh tế.
Điều này bởi vì, tỷ lệ quán và rõ nét). vào nên kinh tế. Một số nghiên cứu lạm phát cao làm đình trệ sản xuất Qua thực tế chứng minh rằng của Fischer (1993), Barro (1995), thông qua kênh đầu tư, tín dụng, Chính phú muốn đạt mục tiêu Bruno và Easterly (1998) đều chỉ tiêu dùng.