Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác xã hội trong việc phòng ngừa và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật của vị thành niên. Chương 2: Những nguy cơ vị thành niên vi phạm pháp luật và công tác phòng ngừa, ngăn chặn tại quận Đống Đa nói chung và trường trung học phổ thông Phan Huy Chú nói riêng. Chương 3: Vận dụng công tác xã hội bước đầu xây dựng chương trình làm việc đối với nhóm vị thành niên nhằm phòng ngừa và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật. Phần 3: Kết luận 18 Footer Page 21 of 107.
Header Page 22 of 107. PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG 1. CƠ SỞ Ý UẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA C NG T C HỘI TRONG VIỆC PHÒNG NGỪA VÀ NGĂN CHẶN HÀNH VI VI PHẠM PH P UẬT CỦA VỊ THÀNH NIÊN 1. Các khái niệm công cụ 1.
Khái niệm “vị thành niên” Từ điển Từ và Ngữ tiếng Việt, “vị” trong “ vị thành niên” mô tả tình trạng chưa đầy đủ, còn thiếu, khuyết hoặc chưa tới, chưa đủ. Vị thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần, chưa có khả năng nhận thức, kiểm soát được suy nghĩ, hành vi của mình. Do đó, vị thành niên dễ bị chi phối bởi tác động bên ngoài và thực hiện các hành vi thiếu suy nghĩ chín chắn. Từ tiếp cận tâm lý học, vị thành niên là thời kỳ phát triển tâm lý tạo nên cơ sở cho việc hình thành các quan điểm xã hội và đạo đức nhân cách của người chưa thành niên.
Trong đó, yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển nhân cách vị thành niên là tính tích cực xã hội mạnh mẽ của bản thân các em, nhằm lĩnh hội những mẫu mực và giá trị nhất định, nhằm xây dựng những quan hệ thoả đáng với người lớn và bạn bè, cuối cùng nhằm thiết kế nhân cách của bản thân mình. Đây cũng là giai đoạn nảy sinh nhiều rối nhiễu tâm lý nhất so với các lứa tuổi khác. Những phản ứng tiêu cực ở độ tuổi này là cơ sở gây sự mất cân bằng chung, dễ bị kích thích, hiếu động, nổi nóng, đặc biệt trên lĩnh vực tình cảm. Từ góc độ này cũng có thể hiểu, vị thành niên là giai đoạn của những thay đổi và những thích nghi, những thay đổi và thích nghi đó theo chiều hướng nào điều này phụ thuộc vào sự khác biệt về kinh tế, xã hội, văn hoá của mỗi quốc gia cũng như từ hệ thống giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, trợ giúp và tư vấn của những người có trách nhiệm trong xã hội.
Nhà tâm lý học Kuhlen nhận định: "Vị thành niên là một giai đoạn phát triển về giới tính, tình dục, xã hội, ý tưởng, chuẩn bị cơ hội nghề nghiệp và nỗ lực thoát khỏi sự kiểm soát của cha mẹ"[17]. 19 Footer Page 22 of 107. Header Page 23 of 107. Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên hay “vị thành niên” được xác định thống nhất trong Hiến Pháp năm 1992, Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác.
Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực cụ thể ( Theo Hiến Pháp năm 1992, Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính). Theo quy định của pháp luật hành chính và hình sự nước ta, chủ thể vi phạm hành chính và vi phạm hình sự đều phải đạt độ tuổi từ đủ 14 tuổi trở lên mà trí tuệ phát triển bình thường. Theo quy định tại Điều 6 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị xử phạt đối với những vi phạm hành chính thực hiện do cố ý. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra.
Theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, vị thành niên được hướng tới là những người nằm trong độ tuổi từ 14 đến 18 tuổi. Khái niệm vị thành niên vi phạm pháp luật Pháp luật là một trong những phần của kiểm soát xã hội, nó là hệ thống những chuẩn mực xã hội bắt buộc được ấn định hay được phê chuẩn bởi nhà nước nhằm điều chỉnh hành động, hành vi và quan hệ của con người như nhóm xã hội, tổ chức nhà nước và được bảo đảm bởi sự ép buộc của nhà nước, dưới những hình thức, hình phạt. 20 Footer Page 23 of 107.
Header Page 24 of 107. Vị thành niên vi phạm pháp luật là người thực hiện hành vi bị coi là tội phạm và được quy định trong Bộ luật hình sự, có đủ điều kiện để chịu trách nhiệm hình sự và có thể bị xử lý theo pháp luật hình sự. Theo Điều 20 bộ luật Dân sự quy định, vị thành niên vi phạm pháp luật là người có hành động trái với pháp luật do cố ý hoặc không cố ý. Những người này sẽ được xử lý bằng hệ thống xử phạt hành chính hoặc hình sự tuỳ theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Phân biệt khái niệm “vị thành niên phạm tội” với khái niệm “tội phạm do vị thành niên gây ra”. Người chưa thành niên phạm tội là khái niệm dùng để chỉ một dạng chủ thể đặc biệt của tội phạm là người chưa thành niên còn khái niệm Tội phạm do người chưa thành niên gây ra là khái niệm dùng để chỉ tội phạm đã được thực hiện trên thực tế bởi người chưa thành niên. Tội phạm do người chưa thành niên gây ra bao giờ cũng gắn liền với một người chưa thành niên có hành vi phạm tội cụ thể nhưng không phải mọi trường hợp một người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội đều trở thành tội phạm. Khái niệm “phòng ngừa”, “ngăn chặn” và “nguy cơ” Theo Từ điển Tiếng việt: “Phòng ngừa” là chuẩn bị trước, bằng cách này hay bằng cách khác, không để cho cái xấu, cái không hay nào đó xảy ra.
“Ngăn chặn” là bắt dừng lại, đứng lại, không cho hoạt động, bắt ngừng ngay từ đầu. “Nguy cơ” là, cái có thể phát sinh tai hoạ trong thời gian gần nhất. Trong đề tài này, khái niệm “phòng ngừa”, “ ngăn chặn” và “nguy cơ” được hiểu như sau: “ Phòng ngừa” là chuẩn bị, trang bị những kiến thức, kĩ năng, công cụ… cần thiết để ngăn chặn không cho điều gì đó có hậu quả xấu xảy ra, tức là cần có một quá trình để thực hiện. “ Ngăn chặn” là cấp thiết, là ngay lập tức phải hành động để dừng lại một điều gì đó sắp xảy ra và để lại ảnh hưởng xấu.
21 Footer Page 24 of 107. Header Page 25 of 107. “ Nguy cơ” là tình huống, hoàn cảnh có thể sẽ để lại một hậu quả xấu. Ngoài ra “hoạt động công tác xã hội” ở đây có thể hiểu là các hoạt động như làm việc nhóm, tham vấn tâm lý, cung cấp thông tin về giá trị sống, pháp luật( giáo dục)…nhằm giúp nhóm thân chủ thay đổi những suy nghĩ chưa đúng đắn, từ đó thay đổi hành vi 1.
Khái niệm “ chuẩn mực xã hội ” Emile Durkhiem ( 1858 – 1917) một nhà xã hội học nổi tiếng khi nghiên cứu về cấu trúc của xã hội loài người đã khám phá ra rằng: mỗi một xã hội sở dĩ tồn tại được là nhờ dựa trên một cơ cấu và trật tự nhất định. Nói một cách khác, sự hợp thành xã hội chỉ có thể thực hiện được khi xã hội đó đưa ra các chuẩn mực tương ứng nhằm theo dõi, kiểm soát, điều chỉnh và xử lý các hành vi của mỗi cá nhân. Bởi vậy trong bất kì xã hội nào, các thành viên của xã hội cũng phải ứng xử theo các chuẩn mực đã được xã hội đó quy định. Chuẩn mực xã hội là các tiêu chuẩn, quy tắc đặc biệt về phương thức sống và ứng xử được xã hội đặt ra hoặc thừa nhận nhằm phục vụ lợi ích của các cá nhân, các nhóm xã hội hay là cả xã hội.
Những quy tắc này thể hiện những yêu cầu cụ thể của xã hội đối với cá nhân trong đó xác định rõ nghĩa vụ, quyền hạn và cả những giới hạn của những cái có thể và được phép trong hành vi của các cá nhân. Có các chuẩn mực thuộc phạm vi chính trị, đạo đức, bên cạnh đó có những chuẩn mực thuộc phạm vi văn hóa, thẩm mỹ… Chuẩn mực xã hội nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, được quyết định bởi cơ sở kinh tế - xã hội và trình độ nhận thực của xã hội đó. Trong xã hội loài người, từ phương Tây đến phương Đ ng, bằng nhiều con đường, những quy tắc, chuẩn mực đ đi vào đời sống xã hội. Chúng có thể là những văn bản chính thức của Nhà nước như luật pháp, quy chế, điều lệ, văn kiện… chúng cũng có thể được phản ánh trên sách, báo và các phương tiện truyền thông.
Mặt khác, cũng có những chuẩn mực kh ng được ghi thành văn bản chính 22 Footer Page 25 of 107. Header Page 26 of 107. thức nhưng lại được truyền tải th ng qua dư luận, đạo đức, thẩm mỹ, thông quan các định hướng giá trị dưới các hình thức ca dao, thành ngữ, truyện dân gian, truyền thuyết hoặc các phương tiện truyền khẩu phong phú, da dạng khác ( GS. Lê Thị Quý, 1996) Vai trò của các chuẩn mực xã hội: - Các chuẩn mực được đặt ra trong xã hội là những nhân tố khách quan tạo nên sự ổn định của xã hội - Con người sinh ra, trưởng thành trong các quy chuẩn của cuộc sống xã hội và cộng đồng.
Các quy chuẩn này không chỉ đặt họ vào các khuân phép bắt buộc về nghĩa vụ và quyền lợi mà còn hướng họ hình thành nên một nền tảng nhân cách trong ứng xử. - Vì vậy, các quy chuẩn đặt ra không chỉ có ý nghĩa về mặt pháp lý, đạo đức hay văn hóa mà còn có ý nghĩa về mặt giáo dục và xã hội hóa cá nhân.