Chương 1: Giới thiệu chung về bối cảnh chính sách, mục đích, câu hỏi, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Chương Cơ sở lý luận. Chương này chủ yếu trình bày một số khái niệm quan trọng sử dụng trong nghiên cứu, các mô hình, nghiên cứu trước và đề xuất khung phân tích. Chương 3: Tổng quan thực trạng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2008.
Nội dung chương tập trung trình bày tổng quan về thực trạng xuất khẩu Việt Nam, các lợi thế và yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng xuất khẩu giai đoạn này. Chương 4: Phân tích lợi thế so sánh và các yếu tố tác động đến tăng trưởng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2008. Chương này trình bày kết quả phân tích lợi thế so sánh, các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng các mặt hàng chủ lực và kết quả các phân tích phối hợp các yếu tố trên. Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách.
Chương này đưa ra kết luận của nghiên cứu. Từ kết quả nghiên cứu, đưa ra gợi ý chính sách, cụ thể hóa bằng các giải pháp nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam. Cuối cùng là chỉ ra hạn chế, dự kiến hướng khắc phục và phát triển cho nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương 2 đề cập cơ sở lý thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu thông qua trình bày các khái niệm, mô hình, nghiên cứu thực nghiệm và cuối cùng là xây dựng khung phân tích cho đề tài nghiên cứu.1- Giới thiệu một số khái niệm liên quan Lợi thế tuyệt đối: khái niệm do Adam Smith (1776) đề xuất, theo đó lợi thế tuyệt đối được sử dụng để chỉ một quốc gia trong tham gia thương mại quốc tế, nhờ lợi thế tự nhiên hay do nỗ lực tự thân đã có khả năng sản xuất, xuất khẩu một mặt hàng với chi phí thấp hơn so đối tác thông qua các đặc điểm: giá thành sản xuất thấp hơn, năng xuất lao động cao hơn, chất lượng các nhân tố đầu vào của sản xuất cao hơn… Với đặc điểm này, khi tham gia vào thương mại quốc tế, các quốc gia sẽ được hưởng lợi khi cùng trao đổi những mặt hàng mình có lợi thế tuyệt đối với đối tác (Lê Ngọc Uyển, 2003).
Lợi thế so sánh: khái niệm do David Ricardo (1817) phát triển từ khái niệm lợi thế tuyệt đối trên cơ sở mở rộng nguyên tắc phân công lao động. Theo đó, “một quốc gia có lợi thế so sánh trong việc sản xuất một sản phẩm nếu chi phí cơ hội của việc sản xuất sản phẩm trong quốc gia đó thấp hơn chi phí cơ hội của việc sản xuất sản phẩm đó ở các quốc gia khác”. Do đó, khi mỗi quốc gia tập trung vào sản xuất các mặt hàng mình có lợi thế so sánh thì việc trao đổi thương mại vẫn sẽ có lợi ngay cả khi hiệu quả sản xuất các mặt hàng này thấp hơn so đối tác. Lợi thế cạnh tranh: theo Michael E.
Qua nhắc lại lý thuyết về các khái niệm lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh cho thấy để có được các lợi thế này cần có sự phối hợp các yếu tố liên quan như: điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất hàng hóa, mức độ chuyên môn hóa trong sản xuất, tác động của yếu tố bên ngoài như thị trường, đối thủ cạnh tranh và cuối cùng là chính sách của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 nhà nước. Nghiên cứu sẽ thực hiện phân tích các yếu tố liên quan đến các khái niệm trên để làm cơ sở đánh giá thực trạng, năng lực xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam.2- Các nghiên cứu trước Hai phương pháp: Lợi thế so sánh thể hiện và Dịch chuyển - cấu phần được sử dụng tương đối nhiều trên thế giới, trong các nghiên cứu, phân tích về tăng trưởng kinh tế, lao động, thương mại… Tại Việt Nam, phương pháp Lợi thế so sánh thể hiện chủ yếu được các nhà nghiên cứu sử dụng, chưa thấy có ứng dụng trong công tác điều hành, quản lý nhà nước. Riêng phương pháp Dịch chuyển – cấu phần rất ít thấy được sử dụng. Nghiên cứu của tác giả Vũ Thắng Bình có sử dụng hai phương pháp trên để đánh giá các yếu tố tác động đến tăng trưởng xuất khẩu và lợi thế so sánh của tám nhóm hàng xuất khẩu chính của Việt Nam thông qua tác động của ba yếu tố: thay đổi cầu nhập khẩu thế giới, cơ cấu ngành và lợi thế quốc gia ảnh hưởng lên tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1999 – 2003, đồng thời kết hợp phân tích, đánh giá lợi thế so sánh thể hiện của các nhóm hàng này, qua đó đề ra khuyến nghị.
Trên thế giới, hai phương pháp nêu trên thường được sử dụng riêng biệt. Các nghiên cứu của Mustafa Dinc (2002); Kian – Heng Peh and Fot-Chyi Wong (1999)… sử dụng phương pháp Dịch chuyển - cấu phần để phân tích, lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi của xuất khẩu (kim ngạch, thị phần). Theo đó, thay đổi xuất khẩu trong một giai đoạn nghiên cứu bằng tổng thay đổi của ba cấu phần: thị phần quốc gia, cơ cấu ngành và thị phần khu vực. Từ công thức này, các tác giả đã thực hiện tính toán, phân tích kết quả và đề ra giải pháp, khuyến nghị đối với hoạt động xuất khẩu thông qua tác động vào ba yếu tố chính trong công thức.
Đối với phương pháp Lợi thế so sánh thể hiện, đã có nhiều nhà nghiên cứu như Balassa hoặc gần đây là Ian Coxhead sử dụng. Trong nghiên cứu của Ian Coxhead (2006), tác giả thực hiện so sánh lợi thế so sánh thể hiện của các mặt hàng xuất khẩu của Trung Quốc với năm nước Asean: Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Philippines trong giai đoạn 2000 – 2004. Qua đó, tác giả cho biết các mặt hàng xuất khẩu chính có lợi thế so sánh thể hiện của Trung Quốc và năm nước Asean chủ yếu thuộc về các mặt hàng có lợi thế khai thác tài nguyên. Do đó, tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc sẽ có khả năng tác động tiêu cực đến xuất khẩu của các nước này.1- Phương pháp Lợi thế so sánh thể hiện Phương pháp xác định lợi thế so sánh thể hiện được giới thiệu bởi Liesner (1958) và sau này được tác giả Balassa, Giáo sư Kinh tế - chính trị của trường Đại học Hopkins, đưa ra LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 sử dụng từ năm 1965 và được biết đến với tên gọi: “chỉ số Balassa” (Jeroen Hinloopen, Charles van Marrewijk, 2004).
Theo đó, lợi thế so sánh thể hiện của một loại hàng hóa xuất khẩu phản ánh mức độ chuyên môn hóa và ưu thế tương đối của nền kinh tế quốc gia trong sản xuất, xuất khẩu mặt hàng này so với mức độ bình quân của thế giới và được tính bởi công thức: RCA ij = xij X i (2.1) / x /Xwj w Theo công thức trên, lợi thế so sánh thể hiện của một loại mặt hàng xuất khẩu được tính bằng cách so sánh tỷ trọng xuất khẩu của mặt hàng trong tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia so với tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng này của toàn thế giới trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn thế giới. Ý nghĩa của hệ số là khi tỷ trọng tương đối trong xuất khẩu mặt hàng của quốc gia lớn hơn tỷ trọng tương tự của thế giới thì tử số sẽ lớn hơn mẫu số, điều này đồng nghĩa hệ số RCA > 1, quốc gia được xem là có năng lực và đang chiếm ưu thế tương đối trong xuất khẩu mặt hàng này so với mặt bằng chung của thế giới. Mặt hàng xuất khẩu lúc này sẽ được xem là có lợi thế so sánh thể hiện. Hệ số RCA có giá trị càng cao thì lợi thế này càng cao.
Ngược lại, nếu hệ số RCA < 1 thì mặt hàng không có lợi thế so sánh ( Luca De Benedictis and Massimo Tamberi, 2011). Công thức trên cho thấy lợi thế so sánh của sản phẩm xuất khẩu một quốc gia được quy định bởi bốn yếu tố: kim ngạch xuất khẩu của sản phẩm, tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia, kim ngạch xuất khẩu toàn thế giới sản phẩm này và tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn thế giới. Như vậy, với một quốc gia, để nâng cao lợi thế so sánh cho một mặt hàng xuất khẩu thì giải pháp khả thi quan trọng nhất là nâng cao tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng trên tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia. Trên thực tế, bốn yếu tố nêu trên liên tục thay đổi nên lợi thế so sánh thể hiện cũng thay đổi theo.
Chính vì vậy, hệ số RCA có thể được sử dụng để đánh giá sự cải thiện trong cơ cấu hàng xuất khẩu của một quốc gia thông qua so sánh thay đổi hệ số này ở các thời điểm khác nhau hoặc sử dụng để so sánh lợi thế của các mặt hàng xuất khẩu tương đồng giữa các nước, tuy nhiên việc so sánh chỉ ở mức độ tương đối do hệ số này chỉ phản ánh lợi thế so sánh của quá khứ và hiện tại. Như vậy, lợi thế so sánh thể hiện của một mặt hàng có thể giúp đánh giá được năng lực xuất khẩu của quốc gia đối với mặt hàng đó một cách tương đối. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng lợi thế so sánh thể hiện thì chưa thể đánh giá năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vì vậy, nghiên cứu sử dụng thêm phương pháp Dịch chuyển – cấu phần để phân tích các yếu tố tác động đến tăng trưởng xuất khẩu, qua đó kết hợp kết quả tính toán tìm ra từ cả hai phương pháp để làm cơ sở đánh giá năng lực cạnh tranh cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam được đầy đủ hơn.2- Phương pháp Dịch chuyển - cấu phần Phương pháp Dịch chuyển - cấu phần là công cụ phân tích tương đối đơn giản và hữu dụng.
Phương pháp này dựa trên cơ sở kỹ thuật phân rã để tách và xác định nguồn gốc của sự thay đổi của một yếu tố nào đó, qua đó đánh giá những yếu tố ảnh hưởng lên sự thay đổi của yếu tố này (tăng trưởng, phát triển hoặc giảm sút) của một quốc gia hoặc của khu vực. Phương pháp này thường được các nhà kinh tế, kinh tế phát triển, quy hoạch đô thị… sử dụng để phân tích tăng trưởng trong các lĩnh vực: lao động, du lịch, thu nhập, xuất khẩu… Phương pháp này được giới thiệu từ năm 1960 và liên tục được cải tiến, mở rộng (Wei Cheng, Jiuping Xu, 2005).