Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ giới thiệu cơ sở lý thuyết của nghiên cứu này bao gồm: (1) Các khái niệm về năng lực học tập của tổ chức, khái niệm sự hài lòng đối với công việc, mối quan hệ giữa năng lực học tập của tổ chức và sự hài lòng đối với công việc; (2) Các mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa năng lực học tập của tổ chức và sự hài lòng đối với công việc; (3) Đề xuất mô hình nghiên cứu và giả thuyết về mối quan hệ giữa các thành phần của năng lực học tập của tổ chức và sự hài lòng đối với công việc.1 Năng lực học tập của tổ chức Theo Chiva và Alegre (2009) khi phân tích năng lực học tập của tổ chức để có cái nhìn toàn diện hơn nên dựa trên cả hai lý thuyết: lý thuyết học tập của tổ chức và lý thuyết tổ chức học tập. Chính vì vậy trước khi đưa ra khái niệm và đo lường năng lực học tập của tổ chức, tác giả sẽ giới thiệu về hai lý thuyết này.1 Lý thuyết học tập của tổ chức (The organizational learning literature) Học tập trong tổ chức theo truyền thống được chia thành 2 lý thuyết: lý thuyết học tập của tổ chức và lý thuyết tổ chức học tập. Các nhà nghiên cứu trước đây tập trung vào quá trình học tập của một tổ chức và sau này tập trung vào những yếu tố tạo thuận lợi cho quá trình này hoặc các hướng dẫn để trở thành một tổ chức học tập (Chiva và Alegre, 2009). Lý thuyết học tập của tổ chức (organizational learning) nhằm phân tích và xác định xem quá trình học tập được diễn ra như thế nào tại các tổ chức (Crossan và cộng sự, 1999).
Theo Crossan và cộng sự (1999), việc học tập của tổ chức là một quá trình năng động. Nó tạo ra sự kết hợp giữa việc học tập và sử dụng những gì đã được học. Thông qua quá trình học tập, những hành động và ý tưởng mới của cá nhân sẽ tác động đến tổ chức. Đồng thời, những phản hồi từ tổ chức sẽ tác động trở lại cá nhân, ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành động của cá nhân.
Tư duy về việc học tập của tổ chức đã diễn ra theo thời gian và nhiều quan điểm đã xuất hiện. Tuy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nhiên, có hai quan điểm chính về việc học tập của một tổ chức đó là: quan điểm cá nhân và quan điểm xã hội (Chiva và Alegre, 2009). Quan điểm cá nhân: thì xem việc học tập như một hiện tượng cá nhân và do đó việc học tập của tổ chức thông qua các cá nhân (Chiva và Alegre, 2009). Theo Mete (2013) việc học tập ở cấp độ cá nhân là quá trình cá nhân có thông tin, nhận thức, hiểu biết và giải thích các thông tin đó, có được kinh nghiệm với những thông tin này và thay đổi hành vi của bản thân để đạt được kết quả mong muốn.
Học tập của cá nhân rất quan trọng cho việc học tập của tổ chức. Bởi vì, tổ chức học tập thông qua những thành viên của nó nhưng việc học tập của tổ chức không phụ thuộc vào bất cứ cá nhân cụ thể nào. Quan điểm xã hội: thì xem xét việc học tập như là một hiện tượng xã hội và do đó việc học tập của tổ chức thông qua cộng đồng và nhóm (Chiva và Alegre, 2009). Điều này có nghĩa là việc chuyển sự hiểu biết và các giá trị kiến thức đạt được ở cấp độ nhóm vào hệ thống, thủ tục, các hành vi của tổ chức và mở ra sự tham gia ở các cấp độ có liên quan (Mete, 2013).
Đồng thời, Mete (2013) cho rằng tổ chức có thể học tập như cá nhân. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây đã bắt đầu phát triển quan điểm thứ ba về việc học tập của tổ chức đó là sự kết hợp giữa quan điểm cá nhân và quan điểm xã hội (Chiva và Alegre, 2009). Theo Elkjaer (2004) việc học tập của tổ chức là sự tương tác giữa các hoạt động của tổ chức với cá nhân và nhóm trong công việc hàng ngày để tạo thành hệ thống tổ chức từ đó sẽ phát triển kỹ năng cá nhân, thu nhận kiến thức cũng như phát triển tổ chức.2 Lý thuyết tổ chức học tập (The learning organization literature) Từ những năm 1990, trong cuốn sách “Nguyên lý thứ năm” của Peter Senge nhấn mạnh những công ty thành công nhất ở thập kỷ 90 được gọi là những tổ chức học tập. Khả năng học tập nhanh hơn đối thủ cạnh tranh trên thị trường có thể là lợi thế cạnh tranh bền vững của tổ chức.
Senge (1990) cho rằng tổ chức học tập là tổ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 chức mà ở đó mọi người liên tục được mở rộng khả năng sáng tạo của họ và đạt được kết quả như họ mong đợi, là nơi mà những ý tưởng mới được nuôi dưỡng và phát triển, những khát vọng tập thể được tự do thể hiện và mọi người được tiếp tục học tập bằng việc học cùng nhau. Như vậy, Peter Senge muốn nhấn mạnh những đặc điểm cốt lõi của tổ chức học tập như: tập thể và học tập liên tục tại môi trường mà tổ chức phải nhanh hơn đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó, quan điểm của Chang và Lee (2007) cho rằng tổ chức học tập bao gồm cá nhân, nhóm và tổ chức với những nỗ lực được tiến hành đồng thời cho việc học tập của tổ chức và cá nhân. Nó như một hoạt động tập thể hướng đến việc chia sẻ tầm nhìn của tổ chức.
Tuy nhiên mức độ học tập của tổ chức phụ thuộc vào năng lực phản ứng với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường. Các cá nhân và nhóm trong tổ chức làm việc cùng với nhau theo những cách khác nhau nhưng tin tưởng và hỗ trợ lẫn nhau để đạt mục tiêu chung và nhắm đến kết quả xuất sắc (Senge, 1990). Tóm lại, lý thuyết tổ chức học tập (learning organization) nhằm mô tả và phân tích tổ chức, và những cá nhân trong tổ chức đó học tập liên tục (Chiva và Alegre, 2009). Pedler và cộng sự (1997) cho rằng một tổ chức học tập là một tổ chức tạo điều kiện học tập cho tất cả các thành viên của mình và liên tục thay đổi tổ chức đó.3 Khái niệm năng lực học tập của tổ chức Lý thuyết tổ chức học tập tập trung vào các yếu tố tạo điều kiện cho việc học tập của tổ chức (Jerez-Gómez và cộng sự, 2005).
Do đó, hầu hết các nghiên cứu xem xét các yếu tố tạo điều kiện cho việc học tập của tổ chức đều dựa trên lý thuyết tổ chức học tập (Goh và Richards, 1997; Pedler và cộng sự, 1997). Tuy nhiên, các yếu tố tạo điều kiện cho việc học tập của tổ chức cũng được phân tích bởi lý thuyết học tập của tổ chức và dựa trên quan điểm xã hội và quan điểm cá nhân (Chiva và Alegre, 2009). Vì vậy, bất kỳ các phân tích về những yếu tố tạo điều kiện cho việc học tập của tổ chức nên bao gồm cả hai lý thuyết: lý thuyết tổ chức học tập và lý thuyết học tập của tổ chức (Chiva và Alegre, 2009). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Theo quan điểm của Chiva và Alegre (2009) cho rằng năng lực học tập của tổ chức nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố tạo điều kiện cho việc học tập hoặc xu hướng học tập của tổ chức.
Năng lực học tập của tổ chức được hiểu là các đặc điểm của tổ chức và hoạt động quản lý tạo điều kiện cho quá trình học tập của tổ chức, từ đó phát triển thành một tổ chức học tập. Theo quan điểm của Goh và Richards (1997) thì năng lực học tập của tổ chức được hiểu là khả năng tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý, cấu trúc tổ chức thích hợp để tạo điều kiện và khuyến khích việc học tập trong tổ chức. Theo quan điểm của Dibellea và cộng sự (1996) năng lực học tập của tổ chức được hiểu là những quy trình, cấu trúc chính thức và không chính thức tạo điều kiện cho việc thu thập, chia sẻ, sử dụng kiến thức và kỹ năng tại tổ chức. Do đó, tổ chức cần tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc học tập.
Theo Jerez-Gómez và cộng sự (2005) năng lực học tập của tổ chức là một quá trình bao gồm: tạo ra, thu nhận, chuyển đổi và tích hợp kiến thức từ đó thay đổi hành vi của tổ chức để thích ứng với hoàn cảnh mới và nâng cao hiệu quả của tổ chức đó. Từ những quan điểm của các tác giả trên ta thấy rằng năng lực học tập của tổ chức bao gồm các yếu tố như: chiến lược; phương pháp học tập; cấu trúc, hệ thống, quy trình của tổ chức; giá trị cốt lõi; lãnh đạo. tạo điều kiện cho việc học tập của tổ chức.2 Đo lường năng lực học tập của tổ chức Để xác định các yếu tố tạo điều kiện cho việc học tập của tổ chức và phát triển thang đo năng lực học tập của tổ chức, hầu hết các bài nghiên cứu chủ yếu dựa vào lý thuyết tổ chức học tập (learning organization) (Goh và Richards, 1997; Jerez- Gómez và cộng sự, 2005). Chiva và Alegre (2009) đã phát triển một đề xuất mới và toàn diện dựa trên ba hoạt động phân tích để đo lường năng lực học tập của tổ chức.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Hoạt động phân tích thứ nhất là phân tích hệ thống thích nghi phức tạp (complex adaptive system). Hệ thống thích nghi phức tạp là hệ thống được tạo thành bởi sự tương tác của các tác nhân (agents), ảnh hưởng của môi trường địa phương và toàn cầu đến tổ chức và làm thay đổi môi trường tổ chức khi tổ chức phản ứng lại (Chiva và Alegre, 2009). Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã bắt đầu sử dụng lý thuyết phức tạp để hiểu rõ hơn về tổ chức vì: tổ chức được coi là hệ thống thích nghi phức tạp và một trong những đặc điểm quan trọng nhất của hệ thống này là năng lực học tập của tổ chức (Chiva và Alegre, 2009).