phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 4 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất rƣợu Chƣơng 2 : Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm rƣợu Vodka của Công ty NMS Chƣơng 4 : Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm rƣợu Vodka của TNHH Giải Pháp Thị Trƣờng Mới. 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.1 Một số công trình nghiên cứu của nước ngoài Khi nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, nhà khoa học đầu tiên phải nói đến là Michael Porter đã cung cấp một khung lý thuyết để phân tích về năng lực cạnh tranh. Trong đó, ông mô hình hóa các ngành kinh doanh và cho rằng ngành kinh doanh nào cũng phải chịu tác động của năm lực lƣợng cạnh tranh. Các nhà chiến lƣợc đang tìm kiếm ƣu thế nổi trội hơn các đối thủ có thể sử dụng mô hình này nhằm hiểu rõ hơn bối cảnh của ngành kinh doanh mình đang hoạt động.
Mô hình Porter's Five Forces đƣợc công bố lần đầu trên tạp chí Harvard business review năm 1979 với nội dung tìm hiểu yếu tố tạo ra lợi nhuận trong kinh doanh. Mô hình này, thƣờng đƣợc gọi là "Năm lực lƣợng của Porter", đƣợc xem là công cụ hữu dụng và hiệu quả để tìm hiểu nguồn lợi nhuận. Quan trọng hơn cả, mô hình này cung cấp các chiến lƣợc cạnh tranh để công ty duy trì hay tăng lợi nhuận. Các công ty thƣờng sử dụng mô hình này để phân tích xem họ có nên gia nhập một thị trƣờng nào đó, hoặc hoạt động trong một thị trƣờng nào đó không.
Tuy nhiên, vì môi trƣờng kinh doanh ngày nay mang tính "động", nên mô hình này còn đƣợc áp dụng để tìm kiếm trong một ngành nhất định các khu vực cần đƣợc cải thiện để sản sinh nhiều lợi nhuận hơn. Các cơ quan chính phủ, chẳng hạn nhƣ Ủy ban chống độc quyền và sáp nhập ở Anh, hay Bộ phận chống độc quyền và Bộ tƣ pháp ở M, cũng sử dụng mô hình này để phân tích xem liệu có công ty nào đang lợi dụng công chúng hay không. Theo Michael Porter, cƣờng độ cạnh tranh trên thị trƣờng trong một ngành sản xuất bất kỳ chịu tác động của 5 lực lƣợng cạnh tranh sau: (1) Sức mạnh nhà cung cấp, (2) Nguy cơ thay thế, (3) Các rào cản gia nhập, (4) Sức mạnh khách hàng, (5) Mức độ cạnh tranh. 5 z Tiếp đó, năm 1985, Porter xuất bản cuốn sách "Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance".
Trong cuốn sách này, Porter nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh và cách thức một công ty thực sự đạt đƣợc lợi thế hơn các đối thủ. Ông chỉ ra rằng lợi thế cạnh tranh không chỉ nằm trong các hoạt động của mỗi công ty mà còn trong các hoạt động liên quan với nhau. Cuốn sách này cũng cung cấp lần đầu tiên những công cụ để có chiến lƣợc phân đoạn một ngành công nghiệp và đánh giá một cách logic, chặt chữ tính cạnh cạnh tranh của sự đa dạng hóa. Không dừng lại ở đó, năm 1990, M.
Porter công bố tác phẩm "Competitive Advantage of Nations". Cuốn sách này đƣợc Porter nghiên cứu tại mƣời quốc gia hàng đầu về kinh tế. Cuốn sách đƣa ra lý thuyết đầu tiên của cạnh tranh dựa trên nguyên nhân năng suất, nhờ đó các công ty cạnh tranh với nhau. Porter cho thấy những lợi thế so sánh truyền thống nhƣ tài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ đã không còn là nguồn gốc của sự thịnh vƣợng.
Cuốn sách cũng giời thiệu mô hình "Kim cương" - một cách để hiệu đƣợc vị thế cạnh tranh của một quốc gia trong cuộc cạnh tranh toàn cầu hiện nay và là một phần không thể thiếu trong tƣ duy kinh doanh quốc tế. Trong cuốn sách này, Porter còn giới thiệu khái niệm "cụm", có thể hiệu là nhóm các công ty liên kết với nhau, các nhà cung cấp, các ngành liên quan, các tổ chức phát sinh tại các địa điểm cụ thể. Khái niệm này đã trở thành một cách thức mới cho các công ty và chính phủ suy nghĩ về nên kinh tế, đánh giá lợi thế cạnh tranh về vị trí và thiết lậ các chính sách công. Mô hình "kim cương" đã nêu lên các yếu tố quyết định sự cạnh tranh của một quốc gia trong thƣơng mại quốc tế.
Theo ông, khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành, các quốc gia đó. Khi lợi thế cạnh tranh mang tính chất toàn cầu hóa, nền tảng cạnh tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sanh sánh mà tự nhiên ban cho sang những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tảo ra và duy trì vị thế cạnh tranh lâu dài của các công ty trên thương trường quốc tế. 6 z Mô hình này đã lý giải những lực lƣợng thúc đẩy sự đổi mới và năng động của các công ty và qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của các công ty trên thị trƣờng. Bốn nhóm nhân tố trong mô hình viên kim cƣơng của Porter phát triển trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và tác động quan trọng đến việc hình thành và duy trì năng lực cạnh tranh quốc tế của các công ty trong một ngành kinh tế - kỹ thuật nào đó.
Sự sẵn có cả về số lƣợng và chất lƣợng các nguồn lực cần thiết cho phát triển một ngành có khả năng cạnh tranh; thông tin thông suốt về những cơ hội kinh doanh mà các công ty có thể tiếp cận; chiến lƣợc của các công ty trong khai thác và sử dụng các yếu tố nguồn lực; quan điểm, triết lý kinh doanh của chủ sở hữu, quản trị viên, các nhân viên trong công ty,. đều có thể "cộng hƣởng" thúc đẩy các công ty trong một ngành phải hoạt động hiệu quả hơn, nâng cao chất lƣợng sản phẩm, đổi mới nhanh hơn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Vai trò của nhà nƣớc là thông qua các chính sách vĩ mô tác động vào cả bốn mặt của "viên kim cƣơng" sao cho chúng cùng phát triển tƣơng xứng, đồng bộ và hỗ trợ lẫn nhau tạo thuận lợi cho các công ty trong nƣớc nâng cao năng lực cạnh tranh trên thƣơng trƣờng quốc tế. Năm 1998, Porter cho ra đời cuốn sách "Competitive Strategy - Techniques for Analyzing Industries and competiors".
Trong cuốn sách này, tác giả đã nêu ra cách phân tích kỹ thuật chiến lƣợc cạnh tranh tổng quát, môi trƣờng công nghiệp chung và chiến lƣợc đƣa ra quyết định. Năm 2008, cuốn sách về năng lực cạnh tranh đáng chú ý đƣợc xuất bản là "On Competition, Updated and Expanded Edition" cũng của tác giả Michael Porter cuốn sách này đƣợc viết theo nhiều chủ đề, cho phép ngƣời đọc dễ dàng truy cập đến hàng loạt các công việc của porter. Phần I và II giới thiệu việc các công ty, cũng nhƣ các quốc gia và khu vực, đạt đƣợc và duy trì lợi thế cạnh tranh nhƣ thế này. Phần III cho thấy cách suy nghĩ chiến lƣợc có thể giải quyết những thách thức cấp bách nhất của xã hội từ môi trƣờng bền vững.
Phần IV tìm hiểu làm thế nào các công ty có thể tạo ra cho xã hội nhiều hơn. Phần V khám phá những mối liên hệ giữa chiến lƣợc và lãnh đạo. 7 z Ngoài Porter, còn có một số tác giả khác cũng đề cập đến năng lực cạnh tranh. Năm 1995, H Chang Moon, Alan M Rugman và Alain Verbeke viết cuốn "The generalized double diamond approachto international competitiveness".
Trong cuốn sách này, các tác giả đề cấp đến cách tốt hơn để đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và vai trò của chính phủ đến khả năng cạnh tranh của các công ty, công nghiệp và quốc gia. Cristina Simon (2008) thực hiện phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đế n năng lƣ̣c ca ̣nh tranh sản phẩm. Tác giả đƣa ra khái niê ̣m năng lƣ̣c ca ̣nh tranh sản phẩ m. Đặc biệt, tác giả tiếp cận năng lực cạnh tranh sả n phẩ m dƣ̣a trên các tiêu chí : chấ t lƣơ ̣ng sản phẩ m , giá cả sản phầm , khả năng phát triển sản phẩm mới và khả năng mở rô ̣ng thi ̣phầ n của sản phẩ m.
Trên cơ sở đó , tác giả đã phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đế n năng lƣ̣c cạnh tranh sản phẩm đó là nhóm nhân tố vĩ mô , nhân tố liên quan đế n ngành và nhóm nhân tố liên quan đế n nô ̣i bô ̣ doanh nghiê ̣p Sajee B.S Tang (2006) thực hiện đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩ m công nghiê ̣p nă ̣ng , Journal of High Technology Management Research, số 17, trang 71 – 83 đã đƣa ra chỉ tiêu đánh giá năng lƣ̣c ca ̣nh tranh sản phẩ m công nghiê ̣p nă ̣ng gồ m 2 nhóm chỉ tiêu là chỉ tiêu tài chính nhƣ là đầu tƣ , doanh thu, lơ ̣i nhuâ ̣n. Đặc biệt c ông trình nhấ n ma ̣nh cá c chỉ tiêu phi tài chính để phản ánh năng lực cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp nặng nhƣ sự thỏa mãn của khách hàng (Sharrma & Fisher, 1997 ; Tracey, Vonderembse & Lim, 1999) ; thị phần thị trƣờng (Anderson & Soha, 1999 ; Lau, 2002), tố c đô ̣ tăng trƣởng thi phầ ̣ n (Tracey, Vonderembse & Lim, 1999), doanh số bán hàng (Anderson & Soha, 1999 ; Li, 2000), tố c độ tăng trƣởng doanh số bán hàng (Lau, 2002, Sharrma & Fisher, 1997 ) Luâ ̣n văn sẽ sƣ̉ du ̣ ng các chỉ tiêu nhƣ doanh thu , tố c đô ̣ tăng doanh thu , tố c đô ̣ tăng thi ̣phầ n để đánh giá năng lƣ̣c ca ̣nh tranh của sản phẩ m .2 Một số công trình nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam cũng có những nghiên cứu về năng lực cạnh tranh: - Năm 2003, UNDP và CIEM nghiên cứu "Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia". Cuốn sách này phân tích năng lực cạnh tranh của Việt Nam và đƣa ra các 8 z giả pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, thời điểm phân tích của cuốn sách cách đây khá lâu, thông tin đã có nhiều bất cập, không còn tính ứng dụng vào thực tế.
Cũng trong năm 2003, tác giả Lê Xuân Bá xuất bản cuốn sách "Hội nhập kinh tế - áp lực cạnh tranh trên thị trường và đối sách của một số nước". Trong cuốn sách này, tác giả đã phân tích môi trƣờng đầu tƣ, lựa chọn dịch vụ và chính sách cho tƣơng lai.