CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH DOANH NGHIỆP PHÂN PHỐI BÁN LẺ HIỆN ĐẠI TẠI TP HỒ CHÍ MINH 1.1 Hoạt động Phân phối bán lẻ 1.1 Khái niệm PPBL được xem xét từ nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau. Về phía nhà cung cấp/sản xuất, phân phối là hoạt động đưa sản phẩm tới người tiêu dùng cuối cùng. Về phía khách hàng, phân phối được thực hiện thông qua các cửa hàng bán lẻ. Đối với nhà phân phối, hoạt động phân phối làm trung gian giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, bao gồm trung gian bán buôn và bán lẻ, có trung gian vừa bán buôn vừa bán lẻ; tùy thuộc vào tỷ trọng buôn bán của siêu thị, TTTM đó.
Hoạt động phân phối mang lại lợi ích cho người tiêu dùng thông qua việc cạnh tranh dẫn đến giảm giá thành khi mà chiết khấu chiếm đáng kể trong giá bán đến với người dùng cuối cùng. Hoạt động Phân phối không chỉ là giao hàng hóa mà còn bao gồm các dịch vụ như địa điểm mua bán thuận tiện, trải nghiệm mua sắm, cung cấp thông tin sản phẩm giúp khách hàng lựa chọn nhanh chóng, chính xác. Qua quá trình này, nhà sản xuất thu thập được nhiều thông tin dữ liệu hơn về nhu cầu người tiêu dùng, từ đó điều chỉnh hoạt động sản xuất đáp ứng tốt hơn cho thị trường.1: Các kênh phân phối sản phẩm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Kênh trực tiếp: hàng hóa được đưa trực tiếp đến người tiêu dùng. Kênh ngắn: hàng hóa được nhà sản xuất đưa đến các địa điểm bán lẻ.
Sau đó mới đến người tiêu dùng cuối cùng, ở đây nhà bán lẻ đóng vai trò cầu nối trung gian. Kênh trung bình: có 2 cấp độ trung gian là bán buôn, bán lẻ rồi đến người tiêu dùng. Kênh dài: nhà sản xuất đưa hàng hóa đến đại lý, sau đó đến người bán buôn/bán lẻ và cuối cùng là đến được người tiêu dùng. Theo American Heritage Dictionary “Bán lẻ là bán hàng cho người tiêu dùng, thường là với khối lượng nhỏ và không bán lại”.
Danh mục phân loại ngành dịch vụ của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) định nghĩa “Bán lẻ là hoạt động bán các hàng hóa cho người tiêu dùng hoặc các hộ tiêu dùng từ một địa điểm cố định (cửa hàng, kiốt) hay một địa điểm khác (bán trực tiếp) cùng các dịch vụ phụ liên quan”. Theo Philip Kotler “Bán lẻ bao gồm tất cả những hoạt động liên quan đến việc bán hàng hóa hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, không kinh doanh”. Trang Wikipedia “Bán lẻ bao gồm việc bán hàng cho cá nhân hoặc hộ gia đình để họ tiêu dùng, tại một địa điểm cố định, hoặc không tại một địa điểm cố định mà qua các dịch vụ liên quan” Tóm lại, bán lẻ là bán hàng trực tiếp đến người tiêu dùng cuối cùng. Hàng hoá ra khỏi quá trình phân phối đi đến hoạt động tiêu dùng.
Theo đó, PPBL thu mua đầu vào, lưu trữ hàng hóa và vận chuyển đến địa điểm cung cấp đầu ra, dịch vụ cho người tiêu dùng. Hoạt động này không tạo ra sản phẩm nhưng làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm.2 Kênh phân phối bán lẻ hiện đại Đặc điểm của kênh PPBL hiện đại thể hiện qua sự tiện nghi, không gian mua sắm tiện nghi, thoải mái, hỗ trợ bán hàng, quản lý bằng công nghệ kỹ thuật, máy móc hiện đại. Ở ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG), kênh phân phối hiện đại bao gồm 3 dạng là cửa hàng tiện lợi (CVS) như 7Eleven, Circle K, Vinmart; hệ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 thống siêu thị (Supermarket) như CoopMart, Lotte, BigC và đại siêu thị (Hypermarket) như MegaMarket, CoopXtra. Ở các khu dân cư, cao ốc kinh doanh thì CVS là mô hình đang rất thịnh hành phổ biến thay thế cho tiệm tạp hóa ở kênh truyền thống.
CVS bán các sản phẩm thường ngày như rau quả, thịt cá đông lạnh. Chuỗi CVS ngày càng được mở rộng về quy mô đã và đang giúp các doanh nghiệp ngành này có thêm nhiều kênh phân phối, tiêu thụ hàng hóa. Ở cấp độ tiếp theo các siêu thị thay thế cho chợ truyền thống. Quy mô hàng hóa nhiều chủng loại, đa dạng kích cỡ.
Siêu thị kết hợp với khu ăn uống, khu vui chơi giải trí tạo thành hệ thống phức hợp, thường tọa lạc tại các tuyến đường lớn, khu đô thị đông dân cư. Đại siêu thị thay thế cho các chợ sỉ (B2B), chợ đầu mối truyền thống như Chợ Lớn, Chợ đầu mối. Bán giá sỉ, quy mô lớn và có thể phân phối lại cho siêu thị và CVS. MegaMarket là đại diện cho loại mô hình này, và ngày nay, họ cũng mở rộng việc buôn bán hàng hóa sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng (B2C).
Ở luận văn này, tác giả thực hiện nghiên cứu về các nhân tố cấu thành NLCT các nhà PPBL hiện đại.2 Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Phân phối bán lẻ 1.1 Khái quát về cạnh tranh, lợi thế và NLCT a) Khái niệm Cạnh tranh được hiểu bằng nhiều cách khác nhau, sử dụng cho phạm vi doanh nghiệp, ngành hoặc quốc gia. Đối với một doanh nghiệp cạnh tranh là để tồn tại và sinh lợi, đối với một quốc gia, cạnh tranh là nâng cao chất lượng cuộc sống, thu nhập và gia tăng phúc lợi cho người dân. Hoạt động của doanh nghiệp cá nhân hay nền kinh tế gắn liền với cạnh tranh, nhằm giữ vững và phát triển tầm vóc, vị thế và uy tín trên thương trường. Có nhiều định nghĩa như sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Theo Karl Marx “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.
Theo Từ điển kinh doanh (Anh, năm 1992) Cạnh tranh là “Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”. Theo tác giả Đặng Đức Thành cho rằng: “Cạnh tranh là một quan hệ kinh tế, tất yếu phát sinh trong cơ chế thị trường với việc các chủ thể kinh tế ganh đua gay gắt để giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng để thu được lợi nhuận cao nhất. Mục đích cuối cùng trong cuộc cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích đối với doanh nghiệp và đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi”.
Từ những định nghĩa trên có thể rút ra quan điểm chung về cạnh tranh như sau: Cạnh tranh là sự tranh giành, ganh đua giữa cá nhân, tổ chức bằng các hành động, các biện pháp để giành thắng lợi. Từ đó thỏa mãn các mục tiêu doanh thu, thị phần, lợi nhuận, danh tiếng. Cạnh tranh luôn tồn tại 2 mặt: tích cực và tiêu cực. Về mặt tích cực, cạnh tranh giúp xây dựng cơ cấu nền kinh tế hiệu quả, phân bổ hợp lý các nguồn lực có hạn của xã hội.
Song song đó, thúc đẩy sự phát triển kỹ thuật công nghệ, tăng hiệu quả sản suất. Ở mặt còn lại, để gia tăng thị phần lợi nhuận, bất chấp tất cả thì có thể xảy ra những việc nghiêm trọng như hủy hoại môi trường sức khỏe, nguồn sống con người, suy thoái đạo đức, nền kinh tế phát triển lệch lạc. b) Khái niệm lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh khi tỷ lệ lợi nhuận cao hơn tỷ lệ bình quân ngành. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 Theo Jack Welch – CEO General Electric “nếu không có lợi thế thì đừng cạnh tranh.
Lợi thế là nền tảng cho sự cạnh tranh, làm cho doanh nghiệp nổi bật, hoạt động tốt hơn những doanh nghiệp khác” Theo Porter “lợi thế cạnh tranh tạo ra giá trị vượt trội, giúp giảm chi phí kinh doanh hoặc tạo khác biệt sản phẩm”. Chất lượng, sự cải tiến, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng là các yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh, mỗi yếu tố đều tạo ra khác biệt, giúp xây dựng giá trị thương hiệu Doanh nghiệp từ việc giảm chi phí, đa dạng chủng loại hay khác biệt hóa sản phẩm so với các đối thủ. c) Khái niệm Năng lực cạnh tranh Theo Từ điển chính sách quốc tế “Sức cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp, hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về kinh tế”. Theo Michael Porter “NLCT là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, hoặc sản phẩm có chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận”.
NLCT thường phân biệt theo 4 cấp độ: cấp độ Quốc gia, Ngành, Doanh nghiệp và NLCT của sản phẩm. - NLCT quốc gia: NLCT quốc gia là khả năng đạt được những thành quả về chất lượng cuộc sống, thu nhập, phúc lợi người dân và mức tăng trưởng kinh tế cao của nước đó. Trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới, việc nâng cao NLCT quốc gia là một yêu cầu cấp thiết. Theo WEF công bố báo cáo NLCT năm 2018 “có 12 tiêu chí để đánh giá NLCT khác nhau: điểm NLCT, thể chế, hạ tầng, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, ổn định kinh tế vĩ mô, sức khỏe, kỹ năng, thị trường cho sản phẩm, thị trường lao động, hệ thống tài chính, quy mô thị trường, động lực kinh doanh, và năng lực sáng tạo”.
NLCT ngành: NLCT ngành là vấn đề cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng ngành nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn. Kết quả là tạo ra tỷ suất lợi nhuận bình quân ngành và giá trị sản xuất hàng hóa ngành. Năng lực này gồm 4 nhóm yếu tố: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 + Nhóm yếu tố do ngành tự quyết định như: công nghệ, sản phẩm, đầu tư nghiên cứu phát triển… + Nhóm yếu tố do Chính phủ quyết định như: lãi suất, thuế, luật pháp ổn định, tỷ giá hối đoái… + Nhóm yếu tố do cả 2 cùng quyết định như: bình ổn giá, đầu ra cho người tiêu dùng, môi trường cạnh tranh lành mạnh, thương mại. + Nhóm các yếu tố hoàn toàn không quyết định được như: khí hậu, môi trường… - NLCT của doanh nghiệp: Có nhiều cách giải thích khác nhau về NLCT của doanh nghiệp.