Chương 1: Tổng quan đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm nghiên cứu 2.1 Cạnh tranh Cạnh tranh là điển hình của nền kinh tế thị trường khi cung - cầu và giá cả hàng hóa là yếu tố quyết định (Nguyễn Minh Tuấn và Bùi Thành Khoa, 2020). Nghiên cứu về cạnh tranh có lịch sử lâu đời, lý thuyết cạnh tranh cũng xuất hiện từ rất sớm. Các trường phái tư tưởng nổi tiếng bao gồm lý thuyết cạnh tranh cổ điển và lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển. Các khái niệm về cạnh tranh bao gồm: Porter (1980) cho rằng cạnh tranh trong nền kinh tế là giành thị phần.
Trong quá trình cạnh tranh với nhau, để giành được lợi thế cho mình, các chủ thể phải áp dụng các chiến lược như cạnh tranh về giá, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, nâng cao dịch vụ khách hàng hoặc bảo hành nhằm tạo sự khác biệt. Hơn nữa, doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh mong muốn có điều kiện kinh doanh thuận lợi nhất như giảm thiểu chi phí đầu vào, doanh nghiệp phải tìm nguồn nguyên liệu giá rẻ, nâng cao năng suất lao động, cải tiến máy móc thiết bị (Nguyễn Minh Tuấn và Bùi Thành Khoa, 2020). Đồng thời, Samuelson và Nordhaus (2000) cho rằng “Cạnh tranh là sự cạnh tranh giữa các doanh nhân để giành lấy thị trường sản phẩm tiêu dùng”. Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2005) cho rằng “Cạnh tranh trên thị trường không phải là loại bỏ đối thủ cạnh tranh mà là mang lại giá trị gia tăng cao hơn và/hoặc sự mới lạ cho khách hàng để họ lựa chọn thay vì đối thủ cạnh tranh”.
Vì vậy, các doanh nghiệp luôn phải tính đến sự cạnh tranh, liên kết với các doanh nghiệp khác để đạt được mục tiêu “Win – Win” (đôi bên cùng có lợi), tức là Co-Marketing – cùng nhau tham gia thị trường. Như vậy, cạnh tranh có thể được hiểu là hành vi cạnh tranh nhằm giành thị phần. Bản chất của cạnh tranh là theo đuổi lợi nhuận, tức là lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình hiện tại của doanh nghiệp. Kết quả của quá trình cạnh tranh là thúc đẩy phát triển kinh tế và tạo ra nhiều lợi ích hơn cho xã hội, cũng như người tiêu dùng, nơi doanh nghiệp sẽ cung cấp nhiều sản phẩm hoặc dịch vụ được lựa chọn hơn và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tốt hơn.
Khả năng cạnh tranh thể hiện sức mạnh thực sự và lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh (Lu và cộng sự, 2008).2 Lợi thế cạnh tranh Porter (1985) cho rằng lợi thế cạnh tranh (LTCT) đề cập đến các nguồn lực và lợi thế của một ngành và một quốc gia có thể tạo ra một số lợi thế vượt trội so với các đối 12 thủ cạnh tranh trực tiếp khi tiến hành kinh doanh trên thị trường quốc tế. Bốn yếu tố của LTCT bao gồm hiệu quả, chất lượng, sự đổi mới và khả năng đáp ứng khách hàng. Khi Barney (1991) nói về lợi ích của một doanh nghiệp, nó bao gồm giá trị vượt trội mà doanh nghiệp tạo ra cho khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh, từ đó giúp doanh nghiệp nâng cao thương hiệu và trở thành nhà cung cấp hàng đầu đáp ứng được sự ưa thích của khách hàng. LTCT là khả năng của một doanh nghiệp thực hiện các hoạt động của mình theo cách này hoặc cách khác mà các đối thủ cạnh tranh không nhận ra (Kotler và cộng sự, 2006).
Đồng thời, Christensen (2010) tin rằng LTCT là bất kỳ giá trị nào do doanh nghiệp cung cấp nhằm thúc đẩy khách hàng mua sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp đó thay vì của đối thủ cạnh tranh và mang lại lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ tiềm năng và hiện tại. Khi khách hàng nhận thấy chúng có giá trị cao nhất, họ có lợi thế hơn các doanh nghiệp khác. Vì vậy, LTCT được hiểu là một lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh do sở hữu nguồn lực, điều kiện và lợi thế thuận lợi hơn. LTCT đã giúp nhiều doanh nghiệp đạt được “sức mạnh thị trường” để đạt được thành công trong kinh doanh.
LTCT đạt được bằng cách cung cấp giá trị gia tăng cho các bên liên quan như khách hàng, nhà đầu tư/ đối tác kinh doanh và bằng cách tạo ra giá trị gia tăng cao cho doanh nghiệp.3 Năng lực cạnh tranh Trong 30 năm qua, năng lực cạnh tranh luôn là một chủ đề thu hút giữa các học giả, doanh nghiệp và các cơ quan chính phủ. Có bốn cấp độ cạnh tranh, bao gồm sản phẩm, doanh nghiệp, ngành và quốc gia (Porter, 2008). Ngày nay, khả năng cạnh tranh cũng được xem xét về khu vực và địa phương (Porter, 2008). Về sản phẩm, Goldberg và cộng sự (2003) lập luận rằng khái niệm cạnh tranh có liên quan đến các khía cạnh của lợi thế cạnh tranh hoặc khả năng cạnh tranh về giá, quản lý chiến lược và các khía cạnh lịch sử, văn hóa - xã hội.
Man và cộng sự (2002) cũng tiếp cận khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp từ góc độ giá cả, chất lượng dịch vụ, lợi nhuận gộp và khả năng lập kế hoạch và đạt được mục tiêu kinh doanh so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành. Đối với ngành, khả năng cạnh tranh được hiểu là khả năng duy trì hoặc tăng thị phần bằng chi phí thấp hoặc đặc tính sản phẩm so với một ngành tương tự ở các quốc gia khác nhau (Porter, 2008). Cuối cùng, năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng cạnh tranh của một nền kinh tế quốc gia để đạt được và duy trì tăng trưởng cao dựa trên các chính sách và thể chế bền vững (Porter, 2008). Nghiên cứu này nghiên cứu 13 khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và chủ yếu được phát triển dựa trên lý thuyết về năng lực cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh của Porter (1985, 2008).
Có thể thấy, có rất nhiều nghiên cứu về NLCT nhưng có thể hiểu NLCT là khả năng vượt trội của một tổ chức so với các đối thủ cạnh tranh trên cùng một thị trường và tập trung vào cùng một đối tượng trọng tâm.4 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Khái niệm về khả năng cạnh tranh của các cấp độ khác nhau (sản phẩm, doanh nghiệp, ngành, quốc gia), đã thu hút sự chú ý của cả các nhà nghiên cứu và quản lý doanh nghiệp (Bharadwaj và cộng sự, 1993; Goldberg và cộng sự, 2003). Khái niệm cạnh tranh liên quan đến các khía cạnh như lợi thế cạnh tranh, cạnh tranh về giá, quản lý chiến lược và các khía cạnh lịch sử và văn hóa xã hội khác (Goldberg và cộng sự, 2003). Năng lực cạnh tranh cũng có thể được xem như một biến độc lập, biến trung gian hoặc biến hoàn toàn phụ thuộc, tùy thuộc vào quan điểm của cách tiếp cận trong các nghiên cứu (Asree và cộng sự, 2010). Đối với DNNVV, năng lực cạnh tranh có thể được nhìn thấy thông qua khả năng cạnh tranh về giá cả, chất lượng dịch vụ, lợi nhuận gộp, lập kế hoạch và đạt được mục tiêu kinh doanh so với các đối thủ cạnh tranh (Fraj và cộng sự, 2015).
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được xem là mức độ tương tác giữa các nhóm khách hàng hài lòng và giá trị của cổ đông bằng cách không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, khả năng khai thác tiềm năng, thực hiện hoặc đáp ứng thông qua sức mạnh tài chính (Asree và cộng sự, 2010). Thực tiễn kinh doanh chỉ ra rằng một DNNVV không phải là một phiên bản thu nhỏ của một doanh nghiệp lớn (Chawla và cộng sự, 1997). DNNVV khác nhau về năng lực vốn, công nghệ, cơ cấu tổ chức, lao động, khả năng đáp ứng với môi trường, phong cách quản lý và quan trọng hơn là cách mà họ cạnh tranh với các doanh nghiệp khác (Chawla và cộng sự, 1997). Do đó, các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh chỉ tập trung vào các tập đoàn lớn có thể không được áp dụng trực tiếp cho DNNVV (Man và cộng sự, 2002; Chawla và cộng sự, 1997).
Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các DNNVV, đã tăng đáng kể trong những năm gần đây (Asree và cộng sự, 2010). Robinson (2005) nhấn mạnh, việc đánh giá năng lực cạnh tranh của DNNVV cần được xem xét trong phạm vi tương tác rộng hơn, hoặc đặt trong môi trường hoạt động thường xuyên biến động, đồng thời cần xem xét khả năng thu hút vốn và năng lực nội 14 tại của DNNVV. Điều đáng chú ý là để có được lợi thế cạnh tranh, nội lực đóng vai trò quan trọng hơn các yếu tố bên ngoài (Zainudin và cộng sự, 2018).2 Lý thuyết nền liên quan 2.1 Mô hình kim cương của Micheal Porter Mô hình lý thuyết được đề xuất bởi Porter (1998) để phân tích NLCT của một quốc gia. Trong mô hình cạnh tranh kim cương, tác giả chủ yếu tập trung vào bốn thành phần của lợi thế cạnh tranh: (1) Điều kiện về yếu tố sản xuất là đầu vào cần thiết cho bất kỳ hoạt động cạnh tranh sản xuất nào hay điều kiện nhu cầu về chất lượng, mức độ và tính chất của sự quan tâm của khách hàng; (2) Điều kiện cầu là điều kiện cầu trong nước đối với sản phẩm và dịch vụ trong một số ngành nhất định hay điều kiện yếu tố địa phương, chẳng hạn như tài nguyên thiên nhiên và vị trí của một khu vực; (3) các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan đến doanh nghiệp; (4) Chiến lược, cơ cấu doanh nghiệp và cạnh tranh trong nước ảnh hưởng đến đặc điểm cạnh tranh trong nước cũng như thành lập, tổ chức và quản lý doanh nghiệp/chính sách của chính phủ hỗ trợ cộng đồng về thông tin và cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho các yếu tố đầu vào như lực lượng lao động được đào tạo, duy trì khuôn khổ phù hợp để điều chỉnh các tiêu chuẩn và đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và chính trị.
Ngoài 4 nhóm yếu tố trên, chính phủ và sự ngẫu nhiên (hoặc cơ hội) cũng đóng vai trò quan trọng, bị ảnh hưởng bởi 4 yếu tố trong mô hình. Mô hình kim cương của Porter, 1998 (Nguồn: Porter, 1998) 15 Mô hình kim cương (Hình 2.1) có bốn đỉnh, đó là các điều kiện yếu tố (con người, yếu tố vật chất, kiến thức), điều kiện cầu (quy mô thị trường, cấu trúc và độ phức tạp), ngành cung cấp và các ngành liên quan, và tình trạng kinh doanh.