Chương 1: Lý luận chung về bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng và năng lực bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân. Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về năng lực bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân. Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về năng lực bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG VÀ NĂNG LỰC BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN 1.
Lý luận hung về tr h nhiệm ồi thƣờng thiệt hại ngo i hợp đồng 1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng BTTHNHĐ là một trong những chế định có sớm nhất của pháp luật dân sự trong lịch sử pháp luật thế giới. Quy định về ngƣời phải bồi thƣờng, cách thức bồi thƣờng, thiệt hại phải bồi thƣờng, mức độ bồi thƣờng khác nhau qua các thời kỳ lịch sử, và cũng khác nhau ở mỗi quốc gia, lãnh thổ, tùy thuộc vào quan điểm giai cấp, điều kiện kinh tế - xã hội ở các nƣớc khác nhau. Bồi thƣờng thiệt hại đƣợc hiểu là một loại trách nhiệm dân sự theo đó ngƣời có hành vi gây ra thiệt hại cho ngƣời khác phải bồi thƣờng những tổn thất mà mình gây ra [10].
Về mặt ngôn ngữ học, theo Đại từ điển tiếng Việt, thiệt hại đƣợc hiểu là “mất mát, hư hỏng nặng nề về người và của” [32]. Dƣới góc độ khoa học pháp lý, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội: “thiệt hại là tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ” [19]. Theo luật thực định, Điều 310 BLDS 1995 đƣa ra cách tiếp cận khái niệm “trách nhiệm bồi thường thiệt hại” trong quan hệ pháp luật về BTTHNHĐ, theo đó “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần”. Điều 307 BLDS 2005 nhắc đến trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại, tuy nhiên lại không đƣa ra đƣợc căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại, mà chỉ đề cập đến hai loại trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại về vật chất và bồi thƣờng bù đắp tổn thất về tinh thần.
Tiếp đó BLDS năm 2015 quy định tại Điều 360 về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ: Trƣờng hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thƣờng toàn bộ thiệt hại, trừ trƣờng hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cụ thể tại Điều 361 BLDS 2015: Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định đƣợc, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút. Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể.
Nhƣ vậy, về mặt khoa học và luật thực định thì theo quan điểm phổ biến hiện nay có thể hiểu thiệt hại bao gồm: Thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Bồi thƣờng thiệt hại đƣợc hiểu là “đền bù những tổn thất đã gây ra” [31]. Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm đƣợc bồi thƣờng toàn bộ thiệt hại, trừ trƣờng hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác [29, Điều 13]. Về khía cạnh pháp lý, bồi thƣờng là một dạng nghĩa vụ dân sự phát sinh do hành vi gây thiệt hại, hay có thể hiểu là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại.
Nhƣ vậy có thể định nghĩa bồi thƣờng là việc đền bù những tổn thất, mất mát về vật chất và tinh thần nhằm khắc phục những hậu quả do hành vi gây thiệt hại gây ra. Tôn trọng pháp luật, tôn trọng những quy tắc chung của xã hội, không xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời khác là nguyên tắc chung cho mọi chủ thể trong toàn xã hội. Khi chủ thể vi phạm nghĩa vụ pháp lý, gây tổn hại cho chủ thể khác thì chính chủ thể đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra, việc gánh chịu hậu quả bất lợi này chính là việc bồi thƣờng thiệt hại. Nhƣ vậy, trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại là trách nhiệm dân sự mà theo đó thì một ngƣời phải bù đắp những tổn thất, mất mát về vật chất và tinh thần nhằm khắc phục những hậu quả do hành vi gây thiệt hại trái pháp luật gây ra.
Qua tiến trình phát triển của xã hội, các chế định pháp luật dần thay đổi, trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại không đƣợc coi là hình phạt nữa mà là nghĩa vụ của ngƣời gây thiệt hại phải bồi thƣờng cho ngƣời bị thiệt hại nhằm khôi phục tình trạng tài sản của ngƣời bị thiệt hại. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com BTTHNHĐ là một chế định quan trọng trong luật dân sự. Tại Điều 275 BLDS năm 2015 nêu ra một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật”, tƣơng ứng với căn cứ này là các quy định tại chƣơng XX phần thứ ba BLDS 2015 về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Theo đó, hành vi trái pháp luật là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTHNHĐ.
Trách nhiệm lúc này đƣợc hiểu là nghĩa vụ của ngƣời gây thiệt hại phải bồi thƣờng cho ngƣời bị thiệt hại. Trong trƣờng hợp này, nhà làm luật đã đồng nghĩa trách nhiệm BTTHNHĐ với nghĩa vụ phát sinh do hành vi trái pháp luật. Điều 584 BLDS 2015 đã xác định sự đồng nghĩa này bằng quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Theo quy định của điều luật này khi một ngƣời gây thiệt hại cho ngƣời khác thì phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại.
Hay nói cách khác giữa các chủ thể này phát sinh một quan hệ pháp luật, trong đó ngƣời bị thiệt hại có quyền yêu cầu bên gây thiệt hại bồi thƣờng còn bên gây thiệt hại có nghĩa vụ bồi thƣờng những thiệt hại đã gây ra. Quan hệ pháp luật đó gọi là nghĩa vụ phát sinh do gây thiệt hại hay còn gọi là trách nhiệm BTTHNHĐ [1]. Bộ luật không đƣa ra khái niệm trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại mà chỉ quy định ngƣời có hành vi gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại về vật chất và bồi thƣờng thiệt hại về tinh thần, khi thiệt hại xảy ra. Trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế xác định đƣợc do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
Trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại về tinh thần là khi ngƣời có hành vi gây thiệt hại về tinh thần cho ngƣời khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể [29, Điều 361]. Trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại làm phát sinh nghĩa vụ bồi thƣờng do hành vi trái pháp luật, và từ nghĩa vụ phải bồi thƣờng lại tạo ra quan hệ nghĩa vụ tƣơng ứng với quy định nghĩa vụ tại Điều 274 BLDS 2015: 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không đƣợc thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền). Theo đó, ngƣời bị thiệt hại (ngƣời có quyền) và ngƣời gây ra thiệt hại (ngƣời có nghĩa vụ) là các bên tham gia vào quan hệ nghĩa vụ này, trong đó bên có quyền cũng nhƣ bên có nghĩa vụ có thể có một hoặc nhiều ngƣời. Quyền và nghĩa vụ của họ có thể là liên đới, riêng rẽ, hay theo phần tùy điều kiện hoàn cảnh và đối tƣợng bị xâm hại.
Trong quan hệ nghĩa vụ đó, chủ thể tham gia có thể là công dân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Các cơ quan nhà nƣớc, cơ quan tiến hành tố tụng cũng có thể trở thành bên có quyền hoặc bên có nghĩa vụ trong một số trƣờng hợp. Cơ sở của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do pháp luật quy định xuất phát từ những nguyên tắc chung của Hiến pháp và các nguyên tắc đƣợc quy định trong Điều 3 BLDS 2015. Tại khoản 4 Điều 3 BLDS 2015 quy định: “Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”.
Nguyên tắc này buộc các chủ thể không đƣợc xâm phạm, nếu xâm phạm sẽ bị áp dụng các biện pháp cƣỡng chế với mục đích khắc phục những hậu quả về tài sản cũng nhƣ nhân thân do hành vi gây thiệt hại tạo ra. Cơ sở phát sinh nghĩa vụ bồi thƣờng thiệt hại do là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” cho các chủ thể khác. Khách thể trong quan hệ nghĩa vụ này luôn đƣợc thể hiện dƣới dạng hành động, phải thực hiện hành vi bồi thƣờng cho bên bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại thể hiện trong nghĩa vụ bồi thƣờng thiệt hại đƣợc gọi là trách nhiệm BTTHNHĐ, để phân biệt với trách nhiệm theo hợp đồng.
Trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng với nghĩa vụ trong hợp đồng. Loại trách nhiệm này có đặc điểm là giữa hai bên chịu trách nhiệm và bên bị thiệt hại có quan hệ hợp đồng, và thiệt hại là do hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đúng nghĩa vụ trong hợp đồng.