CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO VỊ THẾ NHÀ CUNG CẤP VÀ GIỚI THIỆU VỀ HIỆP ĐỊNH EVFTA Tổng quan về mối quan hệ nhà cung cấp – Doanh nghiệp mua hàng trong chuỗi cung ứng 1.1 Khái niệm về chuỗi cung ứng 1.1 Định nghĩa chuỗi cung ứng Khái niệm Chuỗi cung ứng là khái niệm mới xuất hiện từ những năm 80 -90 của thế kỷ XX, có rất nhiều những góc độ nhìn nhận và định nghĩa khác nhau về chuỗi cung ứng Theo Ganesham, Ran and Terry P. Harison (1995), “chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm và phân phối chúng cho khác hàng” Theo Lambert, Stock and Elleam (1998): “Chuỗi cung ứng là sự liên kết với các Doanh nghiệp nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường”. Một khái niệm khác về chuỗi cung ứng của Christopher (1992) được phát biểu như sau: “Một mạng lưới các tổ chức có mối quan hệ với nhau thông qua các liên kết trên (upstream) và liên kết dưới (downstream) bao gồm các quá trình và hoạt động khác nhau để tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm hoặc dịch vụ đến tay người tiêu dùng cuối cùng”. Pagh (1998), “Chuỗi cung ứng không chỉ là một chuỗi của các doanh nghiệp với nhau, mà là mối quan hệ thương mại giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, và quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau”.
Theo Beamon (1999): chuỗi cung ứng là quá trình tích hợp trong đó nguyên vật liệu được sản xuất thành sản phẩm cuối cùng và giao cho khách hàng thông qua hệ thống phân phối, bán lẻ hoặc cả hai. 6 Theo Lambert, Stock and Elleam (1998), “chuỗi cung ứng là sự liên kết với các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường”. Theo Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals – CSCMP), "Chuỗi cung ứng là một hệ thống bao gồm các tổ chức, con người và các hoạt động, các nguồn lực liên quan đến việc vận chuyển sản phẩm (hoặc dịch vụ) từ tay nhà cung cấp, (hoặc nhà sản xuất) đến khách hàng (người tiêu dùng). Còn được gọi là hoạt động vận chuyển từ B to C, từ Bussiness đến Customer” Theo tác giả An Thị Thanh Nhàn (2021) ở góc độ tiếp cận từ doanh nghiệp có vai trò là công ty trung tâm (focal firm) thì khái niệm chuỗi cung ứng được hiểu như sau: “Chuỗi cung ứng là tập hợp các doanh nghiệp hoặc tổ chức tham gia trực tiếp và gián tiếp vào các quá trình tạo ra, duy trì và phân phối một loại sản phẩm nào đó cho thị trường.” Với quan điểm của tác giả, khái niệm về chuỗi cung ứng của tác giả An Thị Thanh Nhàn (2021) là khái niệm chính xác và hiện đại nhất.2 Phân loại chuỗi cung ứng Có nhiều cách phân loại chuỗi cung ứng, theo tác giả An Thị Thanh Nhàn (2021), chuỗi cung ứng được phân loại theo các dạng phổ biến như Hình 1.1 dưới đây Hình 1.1 Các dạng chuỗi cung ứng phổ biến Nguồn: An Thị Thanh Nhàn, 2021 7 a.
Theo tính chất sản phẩm Chuỗi cung ứng hàng hoá vật chất Sản phẩm hàng hóa gồm các mặt hàng thiết yếu như gạo, rau quả, giấy vở, sữa tắm hay các sản phẩm giá trị cao hơn, thời gian sử dụng dài hơn như xe máy, điện thoại, ô tô, đều có tính vật chất cao. Quá trình sản xuất và tiêu dùng thường độc lập với nhau về địa điểm, thời gian và quy mô. Chuỗi cung ứng hàng hóa vật chất thường khá dài, phức tạp, có nhiều bậc với nhiều thành viên tham gia trên địa bàn rộng. Vật liệu từ các nhà cung cấp có thể đến từ nhiều nguồn trong nước và nước ngoài, được dự trữ ở các nhà kho gần với địa điểm sản xuất.
Các nhà máy lắp ráp, chế biến thường được đặt ở những địa phương có nhân công tay nghề cao với chi phí thấp. Thành phẩm được vận chuyển tới các trung tâm phân phối, có thể dự trữ trong một khoảng thời gian nhất định, rồi được đưa tới tay các nhà bán buôn và cuối cùng là tới các cửa hàng bán lẻ để đến với khách hàng. Chuỗi cung ứng dịch vụ Tỷ trọng dịch vụ ngày càng gia tăng trong các nền kinh tế hiện đại và ngày càng phát triển đa dạng. Điều này dẫn tới chuỗi cung ứng dịch vụ (Services Supply Chain - SSC) ngày càng được quan tâm.
Tương tự như chuỗi cung ứng trong sản xuất SSC bao gồm nhiều doanh nghiệp có liên quan, cùng tham gia vào quá trình tạo ra và cung cấp một loại dịch vụ cụ thể nào đó cho thị trường. Mục tiêu của SSC cũng tập trung vào mức độ đáp ứng các yêu cầu khách hàng và tối ưu hóa tổng chi phí của chuỗi. Một chuỗi cung ứng dịch vụ điển hình có cấu trúc cơ bản là nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp, nhà tích hợp dịch vụ, người tiêu dùng cuối cùng và các thành viên trong chuỗi tham gia vào toàn bộ quá trình dịch vụ. Trong chuỗi cung ứng dịch vụ, khách hàng cũng được coi là nhà cung cấp, bên cạnh đó, do dịch vụ là vô hình, nên không có luồng vật liệu liên kết giữa các yếu tố này; trên thực tế chúng chỉ được kết nối bằng thông tin.
Khi vận hành chuỗi cung ứng dịch vụ, các thành phần trong chuỗi phải được phối hợp với nhau để đáp ứng các yêu cầu khách hàng tốt nhất. Vai trò phối hợp thuộc 8 chuỗi cung ứng thuộc về nhà tích hợp dịch vụ, đây là thành phần trung tâm của một chuỗi cung ứng dịch vụ. Trong các SSC, nhu cầu khách hàng thường có mức tùy chỉnh cao, mỗi yêu cầu dịch vụ riêng lẻ của họ sẽ được chuyển đến nhà tích hợp dịch vụ. Nhà tích hợp dịch vụ có trách nhiệm quản lý nhu cầu của khách hàng thông qua năng lực và quy trình quản lý nhu cầu.
Nhà tích hợp sử dụng năng lực và nguồn lực của mình để thực hiện các hoạt động dịch vụ và cung cấp dịch vụ cho NTD. Nếu nhà tích hợp dịch vụ không đủ khả năng phục vụ, các dịch vụ sẽ được thuê ngoài, lúc này nhà tích hợp quản lý năng lực cung ứng của các nhà cung cấp dịch vụ thuê ngoài. Với đặc điểm cơ bản của dịch vụ là vô hình và không lưu trữ được, dịch vụ thường sẽ được tiêu dùng ngay cùng với quá trình cung ứng nên không tồn tại hoạt động dự trữ ở đầu ra. Tính chất đồng thời của quá trình cung ứng và tiêu dùng dịch vụ khiến cho yêu cầu về kết nối và chia sẻ thông tin rất cao giữa các thành viên trong chuỗi, đặc biệt là giữa khách hàng và đơn vị cung ứng dịch vụ để có thể cá nhân hóa quá trình và sản phẩm dịch vụ, cũng như điều hòa giữa nhu cầu khách hàng và khả năng cung ứng của doanh nghiệp trong thời gian cao điểm.
Theo đặc điểm nhu cầu Chuỗi cung ứng sản phẩm phổ thông Sản phẩm phổ thông bao gồm những mặt hàng mà NTD thường mua ở cửa hàng tạp hóa hay ở chợ truyền thống. Đây là những sản phẩm đáp ứng nhu cầu cơ bản (mì ăn liền, nước giải khát, xăng dầu.), có thể sẽ không thay đổi trong suốt một khoảng thời gian, nhu cầu có thể dự báo và vòng đời sản phẩm dài. Nhưng sự ổn định này lại dẫn đến cạnh tranh cao và thường dẫn tới lợi nhuận biên thấp. Tiêu chí cụ thể cho nhóm sản phẩm phổ thông là chu kỳ sống trên 2 năm, biên lợi nhuận khoảng 5-7%, chỉ có khoảng 10-20 loại sản phẩm, sai số dự báo trung bình vào thời điểm sản xuất chỉ 10% và thời gian chờ sản xuất sản phẩm theo đơn hàng từ 6 tháng đến 1 năm.
Chuỗi cung ứng của sản phẩm phổ thông (Functional Products Supply Chain) thường có quy trình sản xuất và công nghệ cơ bản trong giai đoạn chín muồi, có xu hướng tự động hóa cao và các hợp đồng cung ứng cũng như phân phối dài hạn. Chuỗi cung ứng của nhóm sản phẩm này thường theo đuổi chiến lược chi phí thấp. Với định 9 hướng đó, các hoạt động không tạo GTGT thường được loại bỏ, các kỹ thuật tối ưu được triển khai để có năng lực hiệu dụng tốt nhất trong sản xuất và phân phối. Kết nối thông tin được thiết lập sao cho đạt được hiệu năng cao nhất, chính xác nhất, cũng như chi phí truyền thông phù hợp nhất.
Chuỗi cung ứng sản phẩm phổ thông thường tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, phục vụ thị trường đại chúng, chất lượng sản phẩm ổn định với dịch vụ tin cậy. Chuỗi cung ứng sản phẩm đổi mới Để tránh biên lợi nhuận thấp, nhiều doanh nghiệp luôn tìm kiếm những mẫu mã và thiết kế mới, dựa trên những cải tiến về công nghệ và chức năng, khiến cho NTD có nhiều lý do hơn để mua sản phẩm. Quần áo thời trang, máy tính xách tay hay điện thoại thông minh là những ví dụ điển hình của sản phẩm đổi mới, thường có chu kỳ sống ngắn chỉ trong vài tháng. Mặc dù sự đổi mới liên tục cho phép doanh nghiệp và chuỗi cung ứng đạt được mức lợi nhuận cao hơn, nhưng cũng khiến cho hoạt động dự báo nhu cầu gặp nhiều thách thức.
Sự bắt chước nhanh chóng ăn mòn những lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm đổi mới và các doanh nghiệp buộc phải đều đặn giới thiệu các dòng sản phẩm mới hơn, cải tiến hơn. Chuỗi cung ứng của sản phẩm đổi mới (Innovative products supply chain) có quy trình sản xuất và công nghệ trong giai đoạn phát triển, dễ thay đổi nhanh chóng, có thể phải điều chỉnh nhiều, có khả năng thất bại cao và doanh thu không chắc chắn. Mạng lưới cung ứng có thể không đáng tin cậy khi chính những nhà cung cấp cũng đang thực hiện cải tiến quy trình và sản phẩm của mình. Tuy nhiên, nếu thành công, chuỗi cung ứng của sản phẩm đổi mới được đền đáp bởi tỷ suất lợi nhuận cao hơn và tốc độ tăng trưởng nhanh hơn.
Chuỗi cung ứng của nhóm sản phẩm này thường theo đuổi chiến lược chất lượng cao với cơ cấu mặt hàng đa dạng, khả năng đáp ứng nhanh và linh hoạt những biến động nhu cầu thị trường, đi kèm với dịch vụ hoàn hảo. Theo nguyên tắc quản lý Chuỗi cung ứng tự phát Sự liên kết đơn giản trong giao dịch mua bán giữa các doanh nghiệp đã tồn tại từ rất lâu trước khi có khái niệm về chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, khi chưa có một chủ 10 thể đứng ra lãnh đạo và gắn kết các thành viên thành một thực thể thống nhất có định hướng dài hạn thì các liên kết này chỉ có tính tự phát.