BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH ÕÕÕÕÕ ĐẶNG THỊ TUYẾT NHUNG NÂNG CAO VỊ THẾ CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ DỆT MAY TOÀN CẦU LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH CÔNG MÃ SỐ: 60.14 NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS ĐINH CÔNG KHẢI TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LỜI CẢM ƠN Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Chƣơng trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, các Quý Thầy Cô đã giúp tôi trang bị tri thức, tạo môi trƣờng điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này. Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin đƣợc bày tỏ lời cảm ơn tới Tiến sĩ Đinh Công Khải đã khuyến khích, chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu này. Xin chân thành cảm ơn các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đã hợp tác chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tƣ liệu, tài liệu hữu ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
Đặc biệt xin đƣợc gửi lời cảm ơn đến Hiệp hội Dệt May Việt Nam, Hiệp hội Bông Sợi Việt Nam,Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Công ty dệt may Phong Phú, Công ty Sợi Phú Bài Huế, Công ty may Texma Vina, Công ty Bông Việt Nam, Công ty Dệt Nhuộm Phƣơng Nam, Bà Jocelyn Trần - Trƣởng văn phòng đại diện Tập đoàn Mast Industries tại Việt Nam và anh Hoàng Xuân Huy đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện nghiên cứu. Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình và những ngƣời bạn đã động viên, hỗ trợ rất tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành luận văn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ii LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện. Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều đƣợc dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi.
Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trƣờng Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh hay Chƣơng trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright. HCM, ngày tháng năm 2011 Tác giả, Đặng Thị Tuyết Nhung LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com iii TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Sau 20 năm phát triển, dệt may Việt Nam đã trở thành ngành hàng xuất khẩu có kim ngạch trên 11 tỷ USD, đứng đầu trong các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu đã chứng minh rằng ngành dệt may đang có những điểm yếu cần phải thay đổi để tồn tại và phát triển. Đó là hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đang chỉ tập trung ở các sản phẩm gia công và quá phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu đầu vào nên giá trị gia tăng hàng xuất khẩu thấp.
Bên cạnh đó, năng lực cạnh tranh của ngành chủ yếu dựa vào chi phí lao động thấp và các chi phí đƣợc hỗ trợ nhƣ điện, nƣớc và đất đai. Phân tích chuỗi giá trị ngành dệt may Việt Nam cho thấy sự phát triển thiếu đồng bộ giữa các phân khúc trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Sự yếu kém trong phân khúc sản xuất nguyên phụ liệu mà đặc biệt là khâu dệt nhuộm và hoàn tất đã cản trở sự phát triển của phân khúc may nói riêng và ngành dệt may Việt Nam nói chung. Việc phát triển dựa trên lợi thế so sánh thiếu bền vững và những đòi hỏi ngày càng cao của ngƣời mua trên thế giới về chất lƣợng sản phẩm và thời gian giao hàng đang tạo áp lực buộc ngành dệt may Việt Nam đứng trƣớc quyết định quan trọng về chiến lƣợc phát triển dựa trên các lợi thế so sánh có sẵn nhƣng thiếu tính bền vững sang phát triển dựa trên việc xây dựng những lợi thế cạnh tranh mới với mức độ thâm dụng tri thức cao hơn để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng thâm nhập vào phân khúc nguyên phụ liệu là bƣớc đi thích hợp nhất nhằm một mặt khắc phục những điểm yếu hiện nay của ngành dệt may Việt Nam qua đó nâng cao giá trị gia tăng cho hoạt động xuất khẩu hàng dệt may, mặt khác tạo tiền đề cho sự phát triển lên các phân khúc cao hơn nữa trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Ý nghĩa chính sách của nghiên cứu là tìm ra các điều kiện cần thiết để ngành dệt may Việt Nam dịch chuyển đến các mắt xích có giá trị gia tăng cao hơn, từ đó đề xuất một số kiến nghị chính sách lên Chính phủ nhằm hỗ trợ nâng cấp quá trình dịch chuyển lên vị trí cao hơn của ngành dệt may Việt Nam. Các đề xuất này bao gồm: phát triển sản xuất cung ứng nguyên phụ liệu; xây dựng cụm ngành công nghiệp dệt may và chuyển dần hoạt động xuất khẩu từ CMT lên FOB, ODM. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com iv MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN.
ii DANH MỤC HÌNH. v DANH MỤC BẢNG. Bối cảnh nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu.
Câu hỏi nghiên cứu. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu. Bố cục của luận văn.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC. Lý thuyết về chuỗi giá trị. Lý thuyết đƣờng cong nụ cƣời về hình thái các hoạt động sản xuất. Các nghiên cứu trƣớc.
VỊ TRÍ CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ DỆT MAY TOÀN CẦU. Đặc điểm và vị trí của ngành dệt may Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2010. Định vị vị trí ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Nguồn cung cấp bông, xơ và sợi.
Hoạt động dệt, nhuộm và hoàn tất. Hoạt động may. Hoạt động marketing và phân phối. GỢI Ý VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH.
Chuyển dần hoạt động sản xuất từ phƣơng thức CMT sang FOB, ODM. Nâng cấp chuỗi giá trị dệt may Việt Nam theo hƣớng phát triển khâu cung ứng nguyên phụ liệu dệt may. Xây dựng cụm ngành công nghiệp về dệt may. 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
39 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com v DANH MỤC HÌNH Hình 2. Hình thái các hoạt động sản xuất………………………………………………. Đồ thị biểu diễn giá trị gia tăng của chuỗi giá trị dệt may………………. Quá trình sản xuất vải………………………………………………………….
Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu…………………………………………………11 Hình 3. Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu……… 26 DANH MỤC BẢNG Bảng 3. Cân đối xuất nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam, 2005-2010…………. Tổng hợp số liệu nhập khẩu bông xơ sợi của Việt Nam…………………….
Nhập khẩu vải và nguyên phụ liệu dệt may 2002-2007……………………. Số liệu xuất khẩu của ngành may Việt Nam qua các thị trƣờng chính……. 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1. Bối cảnh nghiên cứu Nhập siêu đang trở thành một trong những vấn đề vĩ mô thách thức đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
Tình trạng nhập siêu kéo dài và ngày càng nghiêm trọng từ năm 2000 đến nay (Phụ lục 1), đặc biệt từ năm 2007 nhập siêu của Việt Nam luôn ở mức trên 14.000 triệu USD tăng gần gấp 3 lần năm 2005, là một trong những nguyên nhân chính gây áp lực phá giá đồng nội tệ qua đó góp phần tạo nên bất ổn vĩ mô trong những năm qua. Chính phủ đã thực hiện nhiều chính sách nhằm giảm tình trạng nhập siêu và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, nhƣng tác giả nhận thấy rằng bên cạnh các giải pháp mang tính vĩ mô để cải thiện môi trƣờng kinh tế cần có các giải pháp thúc đẩy sản xuất trong nƣớc nhằm xây dựng nền công nghiệp nội địa mạnh. Cụ thể cần có nghiên cứu đối với từng ngành hàng xuất khẩu từ đó đƣa ra các giải pháp có hiệu quả nhằm nâng cao giá trị gia tăng và năng lực sản xuất xuất khẩu của ngành đó. Dựa trên nhận định này, tác giả đã lựa chọn ngành dệt may, một trong mƣời mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam để nghiên cứu.
Ngành dệt may Việt Nam, từ năm 1990 đến nay, đã phát triển mạnh mẽ và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng trƣởng của nền kinh tế. Trong tất cả các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu hiện nay, dệt may Việt Nam là ngành có kim ngạch xuất khẩu và tốc độ tăng trƣởng lớn nhất (Phụ lục 2). Năm 2010, với giá trị xuất khẩu lên tới 11,2 tỷ đô la dệt may đã đóng góp trên 16% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nƣớc. Thị trƣờng xuất khẩu hàng dệt may chủ yếu của Việt Nam là Hoa Kỳ, EU, và Nhật Bản (Phụ lục 3).
Thị phần của Việt Nam trên thế giới giai đoạn 2005-2008 tăng từ 1,7% lên 2,5%, thuộc nhóm 5 quốc gia có quy mô xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới1. Ngành dệt may hiện sử dụng trên 3 triệu lao động - trong đó hơn 1,3 triệu lao động công nghiệp, chiếm tỉ trọng trên 10% so với lao động công nghiệp cả nƣớc2, với những thành tựu này, dệt may Việt Nam đang là ngành công nghiệp quan trọng cho sự phát triển của đất nƣớc. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu lớn và liên tục tăng từ năm 2000 cho đến nay (Phụ lục 4) nhƣng hiệu quả xuất khẩu của ngành dệt may vẫn còn thấp. Theo thông tin trong báo cáo 1 Đặng Tiến (2011), “Cách đột phá nào để trở thành mũi nhọn kinh tế”, Cổng giao tiếp điện tử hiệp hội dệt may Việt Nam, truy cập ngày 22/2/2011, tại địa chỉ: http://laodong.vn/Tin-tuc/Cach-dot-pha-nao-de-tro-thanh-mui-nhon-kinh-te/31858 2 Vũ Đức Giang (2011), Chủ tịch VITAS, website Hiệp hội dệt may VN, truy cập ngày 21/3/2011 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 tổng kết hoạt động của ngành dệt may giai đoạn 2007-2010 do Hiệp hội dệt may Việt Nam công bố tháng 11/2010, hiện nay tỷ lệ xuất khẩu hàng may mặc theo phƣơng thức gia công CMT3 chiếm đến 60%, xuất khẩu theo phƣơng thức FOB4 chỉ khoảng 38%, và còn lại xuất khẩu theo phƣơng thức ODM5 chỉ có 2%.
Chính vì vậy, giá trị gia tăng của các sản phẩm dệt may xuất khẩu còn thấp chỉ khoảng 25% so với kim ngạch xuất khẩu, tỷ suất lợi nhuận chỉ khoảng 5-10%6, và phải nhập khẩu đến 70-80% nguyên phụ liệu. Chi phí đầu vào tăng đang ảnh hƣởng đến lợi thế cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam hiện nay. Giá xăng, giá điện tăng cao ảnh hƣởng trực tiếp tới sản xuất của doanh nghiệp và đời sống của ngƣời lao động. Tình hình thiếu điện, cắt điện diễn ra thƣờng xuyên khiến doanh nghiệp không thể chủ động kế hoạch sản xuất kinh doanh.