Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về trải nghiệm khách hàng sử dụng dịch vụ của hãng hàng không Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng trải nghiệm khách hàng khi sử dụng dịch vụ tại Hãng Hàng Không Quốc gia Việt Nam Chương 4: Giải pháp nâng cao trải nghiệm khách hàng khi sử dụng dịch vụ tại Hãng Hàng Không Quốc gia Việt Nam. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÀI NGHIỆM KHÁCH HÀNG KHI SỬ DỤNG DỊCH VỤ CỦA HÃNG HÀNG KHÔNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Một số nghiên cứu đề cập đến trải nghiệm khách hàng, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ của hãng hàng không tại nước ngoài có thể đưa ra như sau: Mô hình AIRQUAL (Nadiri và cộng sự, 2008) là mô hình dựa trên SERVQUAL.
Nadiri và cộng sự (2008) đã đưa ra 5 thành phần trong thang đo gồm có: hữu hình của hãng hàng không, hữu hình của nhà ga hàng không, nhân viên hàng không, sự đồng cảm của hãng hàng không và hình ảnh của hãng hàng không đó. Nadiri và cộng sự (2008) cho rằng mô hình trên đánh giá gần như chính xác và hiệu quả các nhận thức và thái độ về chất lượng dịch vụ của khách hàng khi sử dụng dịch vụ vận tải hàng không. Ekaterina Tolpa (2012) đã xây dựng một mô hình để đo lường sự mong đợi của khách hàng về chất lượng dịch vụ trong vận tải hàng không gồm 07 yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ vận tải hàng không dựa trên quy trình phục vụ, cụ thể như sau: Mua vé đặt chỗ → Dịch vụ làm thủ tục → Dịch vụ trước chuyến bay → Dịch vụ khởi hành → Dịch vụ trên chuyến bay → Dịch vụ đến → Dịch vụ tại sân bay → Dịch vụ sau khi đến. Alotaibi (2015) mở rộng cho mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ AIRQUAL sử dụng cho lĩnh vực hàng không của Nadiri, và cho ra đời nghiên cứu “Đánh giá mô hình chất lượng AIRQUAL trong việc đo lường chất lượng dịch vụ hàng không và ảnh hưởng của nó đối với sự hài lòng của khách hàng cũng như lòng trung thành của khách hàng”.
Mishal đề xuất mô hình nghiên cứu kết hợp cả AIRQUAL và SERVQUAL và bổ sung thêm những nhân tố mới trong thang đo của mình. Trong đó gồm có: 6 - Tính hữu hình của hãng hàng không (bao gồm đội bay, chất lượng suất ăn nước uống được phục vụ, chất lượng nhà vệ sinh trên tàu bay, sự đầy đủ của sách báo tạp chí, tính cá nhân hóa khi khách hàng muốn phục vụ theo cách riêng của họ, các dịch vụ phương tiện giải trí trên tàu bay và các cơ sở vật chất khác của hãng). - Độ tin cậy của hãng hàng không (bao gồm hành lý của hành khách thì được xử lý cẩn thận, khi hứa với khách hàng phải đảm, khi xảy ra vấn đề hãng là người đứng ra giải quyết thỏa đáng, đáp ứng lịch bay đúng giờ, có hệ thống ghi nhận lỗi). - Sự đáp ứng của hãng (bao gồm nhân viên của hãng có thể tư vấn rõ ràng cụ thể về dịch vụ, nhân viên của hãng có thể bảo đảm được dịch vụ cung cấp, sẵn lòng giúp đỡ khách hàng, không quá bận rộn khi khách hàng yêu cầu, sự đáp ứng đối với các dịch vụ mang tính tức khắc).
- Năng lực phục vụ (bao gồm hãng hàng không có đội ngũ nhân viên được trang bị nhiều kinh nghiệm và có kiến thức chuyên môn tốt, thái độ nhân viên tự tin và đáng tin cậy, bạn cảm thấy an toàn khi thực hiện giao dịch với hãng, nhân viên hàng không có nhiều kiến thức tốt có thể trả lời bạn, nhân viên hàng không rất lịch sự với bạn). - Sự cảm thông (một số ví dụ: khách hàng được bồi thường một cách thỏa đáng nếu như hãng gây ra thiệt hại, nhân viên đặt vị trí của khách hàng vào vị trí của họ khi cung cấp dịch vụ, hãng hàng không luôn quan tâm đến những thông tin cá nhân (như kỷ niệm sinh nhật, các dịp lễ), nhân viên hãng hàng không hiểu được nhu cầu cá nhân của khách hàng, phục vụ khách hàng bằng sự chân thành, nồng nhiệt. Julia Scheffler (2022) thực hiện kiểm tra độ tin cậy của thang đo AIRQUAL, kiểm tra ảnh hưởng của các thành phần chất lượng dịch vụ đối với sự hài lòng của khách hàng và xác định thành phần có ảnh hưởng lớn nhất đến sự hài lòng. Sau đó, sự khác biệt trong nhận thức về chất lượng dịch vụ giữa các loại hãng hàng không khác nhau được điều tra.
Các tiêu chí trong thang đo AIRQUAL bao gồm: các phương hiện hữu hình của hãng hàng không, Phương tiện hữu hình của nhà ga, năng lực phục vụ, sự đồng cảm, Hình ảnh của hãng hàng không. Kết quả cho thấy chỉ một số tham số AIRQUAL là đáng tin cậy, các mục từ các tham số khác được 7 phân tích riêng. Người ta phát hiện ra rằng chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của khách hàng trong ngành hàng không và nhân viên là yếu tố quan trọng nhất. Hơn nữa, nhận thức về chất lượng dịch vụ của hầu hết tất cả các khía cạnh hoặc hạng mục AIRQUAL có sự khác biệt giữa các hãng hàng không giá rẻ và các hãng hàng không đầy đủ dịch vụ.
Siqueira (2023) nghiên cứu các yếu tố chính thúc đẩy niềm tin của khách hàng đối với các thương hiệu hàng không trong bối cảnh Mỹ Latinh. Để hoàn thành mục tiêu này, một phiên bản nâng cao của mô hình AIRQUAL đã được sử dụng để đánh giá nhận thức của khách hàng bản xứ Colombia về trải nghiệm của khách hàng (CX) được cung cấp bởi Avianca, một hãng hàng không nổi tiếng và được đánh giá cao đang hoạt động ở Mỹ Latinh. AIRQUAL là một mô hình dùng để đánh giá chất lượng dịch vụ hàng không được đề xuất bởi Nadiri et al. Nó bao gồm năm các khía cạnh: phương tiện hữu hình của hãng hàng không, phương tiện hữu hình của nhà ga, dịch vụ nhân sự, sự đồng cảm và hình ảnh.
Kết quả chỉ ra rằng trong khi hầu hết các khía cạnh đều tác động đến niềm tin thương hiệu, CX được xác định là động lực chính của niềm tin thương hiệu và đóng vai trò trung gian hòa giải các khía cạnh của AIRQUAL tăng cường và niềm tin thương hiệu. Theo kết quả của nghiên cứu này, cả ba khía cạnh của dịch vụ - chất lượng - chất lượng dịch vụ trước chuyến bay, chất lượng dịch vụ trong chuyến bay và chất lượng dịch vụ sau chuyến bay - có ý nghĩa tương đương và có ảnh hưởng đáng kể đến cách khách hàng đánh giá trải nghiệm của họ. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Tại Việt Nam, một số công trình nào nghiên cứu đến trải nghiệm khách hàng, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ của hãng hàng không tại nước ngoài có thể đưa ra như sau: Dương Cao Thái Nguyên (2015) đưa ra các yếu tố chính của dịch vụ của hãng hàng không là từ khi khách hàng đặt chỗ, mua vé đến khi khách hàng hoàn tất các thủ tục bay gồm: Lịch bay; dịch vụ đặt chỗ, bán vé; dịch vụ tại sân bay; máy bay và dịch vụ trên chuyến bay. Học viên tóm gọn lại chuỗi cung ứng dịch vụ hàng không 8 gồm các giai đoạn sau: Dịch vụ trước chuyến bay, dịch vụ trong chuyến bay và dịch vụ sau chuyến bay.
Dịch vụ hàng không cũng được cấu thành bởi 8 nhân tố cơ bản: lịch bay và độ tin cậy của lịch bay, chất lượng tàu bay, giá và chính sách giá, dịch vụ bán vé đặt chỗ, dịch vụ trên chuyến bay, dịch vụ tại sân bay, dịch vụ sau chuyến bay. Nguyễn Thị Dạ Lam (2017) nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ vận chuyển hành khách nội địa của hãng hàng không Vietjet Air đã đưa ra thang đo đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ vận chuyển hành khách nội địa của hãng hàng không bao gồm: phương tiện hữu hình, sự tin cậy, khả năng đáp ứng, về năng lực phục vụ, sự đồng cảm, giá cả. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các nhân tố mà Vietjet Air cần cải thiện trong đó gồm có nhân tố năng lực phục vụ về việc đào tạo nhân viên có thái độ lịch thiệp với khách hàng, cách ứng xử với khách hàng là nhân tố tiên quyết cần cải thiện. Nhân tố ít hơn sẽ là nhân tố giá cả có ít tác động ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ.
Trần Thị Thủy (2019) nghiên cứu chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của hành khách tuyến nội địa của VNA đã đưa ra thang đo đánh giá gồm 6 thành phần mức độ quan trọng được xếp theo thứ tự như sau: Hạ cất cánh, hành lý; Thủ tục; Dịch vụ trên chuyến bay; Đặt giữ chỗ; Máy bay; Phi hành đoàn có ảnh hưởng tỷ lệ thuận đối với sự thỏa mãn dịch vụ. Nghiên cứu đề xuất ra các kiến nghị để tận dụng lợi thế cạnh tranh vốn có của hãng. Nguyễn Hà Bắc (2022) đã đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ vận chuyển hành khách nội địa của VNA – khảo sát trong thời kỳ Covid-19 dựa trên mô hình 8 nhân tố bao gồm: Tính an toàn trong phòng chống dịch Covid-19; Lịch bay và mức độ tin cậy của lịch bay; Chất lượng tàu bay; Giá và chính sách giá; Dịch vụ bán vé đặt chỗ; Dịch vụ trên chuyến bay; Dịch vụ tại sân bay; dịch vụ sau chuyến bay. Khoảng trống nghiên cứu Trên cơ sở tổng hợp các công trình đã công bố ở nước ngoài và Việt Nam có liên quan đến trải nghiệm khách hàng, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ của hãng hàng không cho thấy: 9 - Các công trình nghiên cứu chủ yếu mới chỉ đánh giá chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng, dựa trên 2 mô hình chính là mô hình SERVQUAL và mô hình AIRQUAL.
Một số đề tài cũng đã bổ sung thêm thang đo cho phù hợp với thực tiễn đối tượng nghiên cứu. - Tại VNA, chưa có bất cứ công trình nghiên cứu đánh giá trải nghiệm khách hàng khi sử dụng dịch vụ tại VNA, do đó, đề tài “Trải nghiệm khách hàng sử dụng dịch vụ tại Hãng Hàng Không Quốc gia Việt Nam” có tính mới và cấp thiết. Cơ sở lý luận về trải nghiệm khách hàng 1.