CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1.1 Các khái niệm về sự hài lòng trong công việc Theo Weiss, (2012) sự hài lòng trong công việc được ông định nghĩa như là một thái độ tích hay tiêu cực của người lao động được thể hiện qua cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động. Kreitner và Kincki, (2007) sự hài lòng trong công việc được phản ánh mức độ cá nhân yêu thích công việc của mình, chính là cảm xúc hay tình cảm của nhân viên đối với công việc. Spector, (1997) sự hài lòng trong công việc mô tả cảm nhận chung, sự cảm nhận thấy thích công việc ở khía cạnh công việc của họ như thế nào. Vì là đánh giá chung nên nó là một biến về thái độ.
Ellickson và Logsdon, (2001) hài lòng trong công việc là mức độ yêu thích công việc của người lao động, là thái độ tích cực hay tiêu cực của người lao động đó. Nói cách khác, môi trường làm việc đáp ứng được nhu cầu, tính cách và giá trị của người lao động thì sự thỏa mãn trong công việc ngày càng cao. Nhìn chung, sự hài lòng trong công việc là hành vi tiêu cực hay tích cực thông qua cảm xúc cá nhân như sự thoải mái, dễ chịu của người lao động khi công sức bỏ ra của họ nhận được kết quả xứng đáng. Sự hài lòng trong công việc được đánh giá qua thành tích và sự cố gắng làm việc.2 Mô hình lý thuyết 1.1 Thuyết hai nhân tố Frederick Herzberg Năm 1959, F.
Herzberg đã phát triển thuyết động viên thực hiện phỏng vấn hơn 4.000 người, đề nghị họ liệt kê những yếu tố làm hứng thú và thỏa mãn công việc của họ, song đó đề nghị họ liệt kê những yếu tố buồn chán và không thỏa mãn công việc của họ. Bằng kinh nghiệm chuyên môn ông đã chỉ ra rằng những nhân tố liên quan đến sự thỏa mãn là nhân tố động viên và khác biệt liên quan đến sự bất mãn trong công việc là nhân tố duy trì. Nó hoàn toàn trái ngược với suy nghĩ của chúng ta trái ngược thỏa mãn là bất mãn, có nghĩa hoặc là thỏa mãn hoặc là bất mãn. 7 Theo Nguyễn Hùng Phong cùng cộng sự (2016, trang 392) thuyết hai nhân tố được chia thành hai loại là nhân tố động viên và nhân tố duy trì như sau: - Nhân tố động viên bao gồm các yếu tố sau: tiền lương cơ bản, điều kiện làm việc, môi trường làm việc, chính sách và cách điều hành trong tổ chức, chất lượng chuyên môn của người giám sát, quan hệ tương tác giữa các cá nhân.
- Nhân tố duy trì bao gồm các yếu tố sau: thăng tiến hay phát triển cá nhân, sự công nhận, cảm nhận về trách nhiệm. Nhân viên sẽ hài lòng với công việc khi các yếu tố tác động được thỏa mãn, ngược lại sẽ bất mãn. Nhân viên sẽ hài lòng với công việc khi các yếu tố duy trì được thỏa mãn, ngược lại sẽ bất mãn. Cách giải quyết hợp lý và đúng đắn là căn bằng giữa hai nhóm nhân tố, không nên chú trọng đến một nhân tố nào hơn trong hai nhân tố.
Các nhà lãnh đạo không thể mong đợi sự thỏa mãn của nhân viên bằng cách đơn giản là loại bỏ những nguyên nhân gây ra sự bất mãn, các nhà lãnh đạo phải vừa tạo ra sự thỏa mãn vừa loại trừ sự bất mãn.2 Thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow (Nguồn: Phan Thị Thu Thảo, 2015) Hình 1.1: Tháp nhu cầu Maslow Mặc dù được biết đến là lý thuyết tạo động lực, nhưng thuyết nhu cầu Maslow, (1943) là một những lý thuyết quan trọng và đầu tiên nghiên cứu về sự hài lòng 8 trong công việc. Nội dung nói về những nhu cầu cơ bản của con người cần được đáp ứng để tồn tại và phát triển: - Nhu cầu sinh lý: ăn, uống, ngủ, nghỉ, thở,. - Nhu cầu an toàn: an toàn lao động, đảm bảo an ninh,. - Nhu cầu xã hội: gia đình, bạn bè, nghề nghiệp,.
- Nhu cầu tự trọng: địa vị, trách nhiệm, thành tựu,. - Nhu cầu thể hiện bản thân: phát triển bản thân, năng lực,.1: Những yếu tố bậc thang nhu cầu Maslow Nhu cầu Được thực hiện tại nơi làm việc Tự thể hiện Phát triển sáng tạo, thăng tiến, cơ hội đào tạo Tự trọng Vị trí cao, thêm trách nhiệm, được ghi nhận Xã hội Nhóm làm việc, khách hàng, đồng nghiệp, xã hội An toàn Công việc an toàn, lâu dài Sinh lý Lương cơ bản, nhiệt độ, không khí (Nguồn: Trần Kim Dung, (2005), Nhu cầu, sự thỏa mãn của nhân viên và cam kết đối với tổ chức) Khi nhu cầu căn bản của con người được thỏa mãn nhu cầu cấp bậc cao hơn của con người sẽ xuất hiện mãnh liệt hơn. Điểm xuất phát đầu tiên là nhu cầu cấp thấp nhất hoạt động thỏa mãn, nó là nhân tố kích thích con người hoạt động, các nhu cầu cao hơn sẽ xuất hiện khi nhu cầu này đã được thỏa mãn. Qua thuyết nhu cầu Maslow, các nhà lãnh đạo phải hiểu được nhân viên mình đang ở bậc nhu cầu nào để động viên người lao động.
Từ những sự hiểu biết đó mà các nhà lãnh đạo đưa ra những giải pháp hiệu quả để thỏa mãn nhu cầu của nhân viên và đảm bảo đạt mục tiêu của tổ chức.3 Thuyết mong đợi H.Vroom, (1964) Năm 1964, lý thuyết kỳ vọng được đề xuất bởi H.Vroom, khác với Maslow và Herzberg chỉ tập trung vào kết quả và không tập trung nhiều vào nhu cầu. Herzberg và Maslow nghiên cứu dựa trên các mối quan hệ của nỗ lực và nhu cầu nội tại nhằm thỏa mãn nhu cầu nội tại đó, còn đối với Vroom tách biệt giữa nổ lực, hành động và hiệu quả. Ông cho rằng động cơ và hành vi của con người được quyết định bởi nhận 9 thức, chứ không nhất thiết bởi hiện thực của con người về kỳ vọng trong tương lai. Thuyết này xoanh quanh: kỳ vọng, tính chất công việc và hóa trị.
- Kỳ vọng: niềm tin nỗ lực sẽ dẫn đến kết quả tốt - Tính chất công việc: niềm tin kết quả tốt sẽ dẫn đến phần thưởng xứng đáng - Hóa trị: phản ánh mức độ quan trọng của người thực hiện công việc và phần thưởng thể hiện thông qua mối quan hệ giữa mục tiêu cá nhân và phần thưởng 1.3 Các mô hình nghiên cứu liên quan đến sự hài lòng trong công việc 1.1 Mô hình JIG (Job In General) của Spector, (1997) Mô hình JIG là công cụ thích hợp để đánh giá mức độ hài lòng của nhân viên thông qua mô tả cảm nhận chung bao gồm 18 mục mô tả, sử dụng ba biến để đánh giá mức độ hài lòng chung là: (1) Nói chung tôi cảm thấy hài lòng với công việc (2) Về tổng thể tôi không thích công việc mình đang làm (3) Về tổng thể tôi thích làm việc ở đây 1.2 Mô hình JDI (Job Description Index) của Smith, Kendall với Hulin, (1969) Mô hình JDI của Smith, Kendall với Hulin, (1969) được xây dựng với năm yếu tố, là công cụ chính để đánh giá sự hài lòng trong công việc. Năm yếu tố đó được thể hiện cụ thể như sau: (1) Thu nhập, (2) Lãnh Đạo, (3) Đồng nghiệp, (4) Cơ hội đào tạo, (5) Bản chất công việc.4 Các nghiên cứu liên quan đến sự hài lòng trong công việc 1.1 Nghiên cứu của Morad Rezaei Dizgah, Mehrdad Goodarzvand Chegini, Roghayeh Bisokhan, (2012) Nghiên cứu của Morad Rezaei Dizgah, Mehrdad Goodarzvand Chegini, Roghayeh Bisokhan, (2012) về mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc và hiệu suất công việc của nhân viên trong khu vực công Guilan, mục đích nghiên cứu sự hài lòng trong công việc và hiệu quả công việc trong khu vực công Guilan, sử dụng phương pháp tương quan với cỡ mẫu là 323 và được chọn bởi các mẫu không có khả năng xẩy ra, dữ liệu được thu thập qua bảng câu hỏi và phân tích hệ số Cronbach’s alpha. Kết quả cho thấy mức độ hài lòng trong công việc được yêu thích dựa trên mối quan hệ sự hài lòng trong công việc và hiệu suất trong vai trò và sự hài 10 lòng trong công việc và hiệu suất công việc sáng tạo. Hạn chết của nghiên cứu này là phương pháp chọn mẫu.2 Nghiên cứu của Nicholas G Castle, Howard Degenholtz và Jules Rosen, (2006) Nghiên cứu được thực hiện bởi Nicholas G Castle, Howard Degenholtz và Jules Rosen, (2006) về các yếu tố quyết định đến sự hài lòng của nhân viên đối với công việc của những người chăm sóc tại hai viện dưỡng lão ở Pennsylvania, nghiên cứu được phân tích dữ liệu từ hai viện dưỡng lão lợi nhuận nằm ở Pittsburgh Pennsylvania.
Sử dụng chỉ số mô tả công việc JDI để thu thập dữ liệu về mức độ hài lòng trong công việc với kích thước mẫu là 251 người chăm sóc. Kết quả nghiên cứu cho thấy những người chăm sóc hài lòng với công việc và đồng nghiệp, ít hài lòng với cơ hội thăng tiến, cấp trên và lương thưởng.3 Nghiên cứu của Trần Minh Hiếu, (2013) Nghiên cứu của Trần Minh Hiếu, (2013) về sự hài lòng của giảng viên trong giảng dạy và nghiên cứu tại trường Đại học An Giang, qua cơ sở lý thuyết tác giả đã xây dựng mô hình về sự hài lòng của giảng viên trong giảng dạy và nghiên cứu. Nghiên cứu sử dụng thang đo nghiên cứu bao gồm 08 biếng độc lập, 43 biến quan sát: Mối quan hệ với sinh viên, Cơ hội đào tạo và thăng tiến, Đặc điểm tính chất công việc, Mối quan hệ với đồng nghiệp, Điều kiện môi trường làm việc, Chính sách quản lý, Sự lãnh đạo của cấp trên, Lương và các khoản phúc lợi. Quá trình nghiên cứu gồm hai bước: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức với 241 bảng hỏi, sau khi phân tích nhân tố khám phá chỉ ra 5 yếu tố tác động đến sự hài lòng của giảng viên trong giảng dạy và nghiên cứu tại trường Đại học An Giang.
Kết quả cho thấy sau khi phân tích hồi quy có đến 60,3% mức độ hài lòng của giảng viên được giải thích bởi các yếu tố nêu trên.4 Nghiên cứu của Huỳnh Thanh Tú và Trương Văn Nghiệm, (2015) Nghiên cứu được thực hiện bởi Huỳnh Thanh Tú và Trương Văn nghiệm, (2015) về nâng cao sự hài lòng trong công việc của nhân viên tại Công ty Cổ phần Điện nước An Giang nhằm xác định các nhân tố tác động lên sự hài lòng trong công việc của nhân viên và đề xuất ra các giải pháp dể nâng cao sự hài lòng của nhân viên tại Công ty Cổ phần điện nước An Giang.