Luận văn: Nâng cao quản lý thu thuế từ đất tại Chi cục Thuế TP. Đồng Hới

Luận văn phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý nguồn thu từ đất tại Chi cục Thu thuế TP Đồng Hới, Quảng Bình.

Trường đại học

Trường Đại Học Duy Tân

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2020

98
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Mục tiêu nghiên cứu

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4. Phương phạm luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5. Kết cấu của đề tài và tổng quan nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ NGUỒN THU THUẾ TỪ ĐẤT

1.1. TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ TỪ ĐẤT

1.1.1. Bản chất, chức năng của thuế

1.1.2. Hệ thống thuế, phân loại thuế và các yếu tố cấu thành sắc thuế

1.1.3. Khái niệm và đặc điểm về thuế từ đất

1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ THU THUẾ TỪ ĐẤT

1.2.1. Quản lý đơn vị đăng ký thuế (cấp mã số thuế), kê khai thuế

1.2.2. Quản lý thuế từ đất

1.2.3. Công tác kiểm tra thuế

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC KHOẢN THU TỪ ĐẤT

1.3.1. Từ phía cơ quan thuế

1.3.2. Từ phía người nộp thuế

1.4. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ TỪ ĐẤT

1.4.1. Kinh nghiệm của một số Chi cục Thuế

1.4.2. Một số nhận xét và bài học cho Chi Cục Thuế Thành phố Đồng Hới

1.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ TỪ ĐẤT TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI

2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI VÀ CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI

2.1.1. Giới thiệu về Thành phố Đống Hới

2.1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

2.2. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI

2.2.1. Sự hình thành và phát triển

2.2.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy

2.2.3. Chức năng nhiệm vụ

2.2.4. Tình hình sử dụng cán bộ, công chức

2.2.5. Cơ sở vật chất kỹ thuật

2.2.6. Tình hình thực hiện dự toán thu ngân sách

2.2.7. Tình hình quản lý thu nộp thuế và quản lý nợ thuế

2.3. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ TỪ ĐẤT TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI

2.3.1. Quản lý đơn vị đăng ký thuế (cấp mã số thuế), kê khai thuế

2.3.2. Quản lý thuế từ đất

2.3.3. Quản lý thu nộp thuế và quản lý nợ thuế

2.3.4. Công tác kiểm tra thuế

2.4. ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ THU THUẾ TỪ ĐẤT TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI

2.4.1. Những kết quả đạt được

2.4.2. Những hạn chế

2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế

2.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO QUẢN LÝ THU THUẾ TỪ ĐẤT TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI

3.1. ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU THUẾ TỪ ĐẤT TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI

3.1.1. Mục tiêu của Chi cục Thuế Thành phố Đồng Hới

3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

3.2.1. Nâng cao công tác quản lý về thu thuế sử dụng đất trên địa bàn Thành phố Đồng Hới

3.2.2. Quản lý doanh nghiệp đăng ký thuế, kê khai thuế

3.2.3. Quản lý doanh thu, thuế từ đất

3.2.4. Quản lý công tác kê khai và quyết toán thuế

3.2.5. Công tác quản lý thu nộp thuế và quản lý nợ thuế

3.3. CÁC GIẢI PHÁP BỔ TRỢ KHÁC

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Vai trò của quản lý nguồn thu từ đất tại Đồng Hới Quảng Bình

Đất đai là một nguồn lực đất đai vô cùng quan trọng, không chỉ là tư liệu sản xuất đặc biệt mà còn là nguồn tài chính chủ yếu cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tại thành phố Đồng Hới, việc khai thác và quản lý hiệu quả nguồn thu từ đất đóng vai trò chiến lược trong việc tạo lập ngân sách, đầu tư cơ sở hạ tầng và thúc đẩy đô thị hóa. Nguồn thu này bao gồm nhiều khoản mục chính như tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Một hệ thống quản lý chặt chẽ và minh bạch không chỉ đảm bảo thu ngân sách nhà nước ổn định mà còn góp phần ổn định thị trường bất động sản, thu hút đầu tư và đảm bảo công bằng xã hội. Các chính sách tài chính đất đai được ban hành nhằm tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực này, biến tiềm năng đất đai thành động lực phát triển bền vững cho toàn thành phố. Do đó, nâng cao hiệu quả quản lý nguồn thu từ đất là nhiệm vụ cấp thiết, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng, đặc biệt là Chi cục Thuế Thành phố Đồng HớiSở Tài nguyên và Môi trường Quảng Bình.

1.1. Nguồn lực đất đai và đóng góp vào thu ngân sách nhà nước

Thành phố Đồng Hới sở hữu vị trí địa lý thuận lợi cùng quỹ đất đa dạng, tạo tiềm năng lớn cho các hoạt động kinh tế. Các khoản thu từ đất chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng thu ngân sách nhà nước của thành phố. Phân tích dữ liệu giai đoạn 2016-2018 từ luận văn của Đặng Thành Linh cho thấy, nguồn thu này có xu hướng tăng trưởng, phản ánh sự phát triển của thị trường bất động sản và nỗ lực của cơ quan quản lý. Cụ thể, các khoản thu từ đấu giá quyền sử dụng đất công và thu tiền sử dụng đất từ các dự án khu đô thị mới đã đóng góp hàng trăm tỷ đồng mỗi năm. Nguồn tài chính này được tái đầu tư vào các công trình công cộng như đường giao thông, trường học, bệnh viện, trực tiếp nâng cao chất lượng sống của người dân và tạo ra một diện mạo đô thị khang trang, hiện đại cho Đồng Hới.

1.2. Khung pháp lý và chính sách tài chính đất đai hiện hành

Hệ thống quản lý nguồn thu từ đất tại Đồng Hới được vận hành dựa trên nền tảng pháp lý quốc gia, chủ yếu là Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Các chính sách tài chính đất đai cụ thể hóa việc xác định nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất. Các văn bản này quy định rõ về phương pháp định giá đất, cơ chế thu tiền thuê đất, và cách tính thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Hàng năm, UBND thành phố Đồng Hới phối hợp với các sở, ngành liên quan để xây dựng và ban hành bảng giá đất Đồng Hới, làm căn cứ cho việc tính toán các khoản thu. Mặc dù khung pháp lý đã tương đối hoàn thiện, quá trình áp dụng tại địa phương vẫn bộc lộ một số bất cập, đòi hỏi cần có sự điều chỉnh và bổ sung để phù hợp hơn với thực tiễn.

II. Thách thức trong quản lý nguồn thu từ đất tại Đồng Hới hiện nay

Mặc dù đạt được những kết quả tích cực, công tác quản lý nguồn thu từ đất tại Đồng Hới vẫn đối mặt với không ít thách thức. Vấn đề nổi cộm nhất là nguy cơ thất thu ngân sách do những bất cập trong quy trình và chính sách. Việc định giá đất đôi khi chưa phản ánh đúng giá trị thị trường, tạo ra kẽ hở cho các hành vi trốn thuế, lách thuế. Công tác phối hợp giữa cơ quan Thuế và cơ quan Tài nguyên - Môi trường chưa thực sự đồng bộ, dẫn đến tình trạng thiếu nhất quán trong dữ liệu. Hơn nữa, hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai chưa được hoàn thiện và liên thông, gây khó khăn cho việc theo dõi, kiểm tra và quản lý. Những hạn chế này không chỉ làm giảm nguồn thu ngân sách nhà nước mà còn ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và gây ra sự thiếu công bằng giữa các đối tượng nộp thuế. Việc nhận diện và khắc phục triệt để các thách thức này là tiền đề quan trọng để xây dựng một nền tài chính công vững mạnh.

2.1. Hạn chế trong công tác định giá đất và xác định nghĩa vụ tài chính

Công tác định giá đất là khâu then chốt nhưng cũng phức tạp nhất. Bảng giá đất Đồng Hới do UBND tỉnh ban hành định kỳ 5 năm một lần, tuy nhiên, giá đất thị trường lại biến động liên tục, dẫn đến sự chênh lệch lớn giữa giá nhà nước quy định và giá giao dịch thực tế. Sự chênh lệch này gây khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng và là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến chống thất thu ngân sách từ đất. Khi xác định tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất cho các dự án, việc áp dụng một mức giá thấp hơn giá trị thực có thể làm thất thoát một khoản thu ngân sách đáng kể. Cần có cơ chế cập nhật giá đất linh hoạt hơn, kết hợp các phương pháp định giá độc lập để đảm bảo tính khách quan và chính xác.

2.2. Bất cập về cơ sở dữ liệu đất đai và ứng dụng công nghệ

Hiện nay, việc chuyển đổi số trong quản lý đất đai tại Đồng Hới vẫn còn chậm. Cơ sở dữ liệu đất đai còn phân mảnh, chưa được số hóa và chuẩn hóa một cách đồng bộ. Thông tin về thửa đất, chủ sử dụng, lịch sử giao dịch, và tình trạng thực hiện nghĩa vụ tài chính chưa được liên thông giữa Chi cục Thuế, Văn phòng Đăng ký đất đai và các cơ quan liên quan. Điều này làm gia tăng gánh nặng thủ công cho cán bộ, kéo dài thời gian xử lý hồ sơ và tiềm ẩn nguy cơ sai sót, tiêu cực. Việc thiếu một hệ thống thông tin quản lý tập trung khiến công tác thanh tra, kiểm tra gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến hiệu quả của các giải pháp quản lý đất đai hiệu quả.

III. Giải pháp hoàn thiện chính sách quy trình quản lý nguồn thu

Để khắc phục những hạn chế hiện tại, việc hoàn thiện chính sách và tối ưu hóa quy trình quản lý là yêu cầu bắt buộc. Cần tập trung vào việc cải cách thủ tục hành chính đất đai theo hướng đơn giản, công khai và minh bạch. Một trong những giải pháp trọng tâm là xây dựng cơ chế định giá đất linh hoạt, tiệm cận với giá thị trường, qua đó bịt kín các kẽ hở gây thất thu. Quy trình đấu giá quyền sử dụng đất cần được thực hiện một cách công khai, cạnh tranh lành mạnh để tối đa hóa nguồn thu cho ngân sách. Đồng thời, cần rà soát lại các chính sách miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất để đảm bảo đúng đối tượng, tránh lạm dụng. Việc xây dựng một hành lang pháp lý vững chắc và một quy trình vận hành khoa học sẽ tạo ra nền tảng cho việc nâng cao quản lý nguồn thu từ đất tại Đồng Hới, Quảng Bình một cách bền vững.

3.1. Cải cách thủ tục hành chính đất đai để tăng minh bạch

Cải cách thủ tục hành chính là chìa khóa để nâng cao hiệu quả và minh bạch thông tin đất đai. Cần triển khai mô hình một cửa liên thông điện tử trong việc giải quyết các thủ tục liên quan đến đất đai, từ đăng ký, chuyển nhượng đến xác định nghĩa vụ tài chính. Việc công khai hóa quy hoạch sử dụng đất Quảng Bình, kế hoạch sử dụng đất hàng năm của thành phố, và các thông tin về dự án đầu tư sẽ giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, giám sát. Giảm thiểu các bước không cần thiết, chuẩn hóa hồ sơ và rút ngắn thời gian xử lý không chỉ tạo thuận lợi cho người dân mà còn hạn chế không gian cho các hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu, góp phần vào mục tiêu chống thất thu ngân sách từ đất.

3.2. Xây dựng bảng giá đất Đồng Hới sát với giá thị trường

Để bảng giá đất Đồng Hới thực sự là công cụ quản lý hiệu quả, cần thay đổi phương pháp xây dựng. Thay vì ban hành định kỳ 5 năm, cần có cơ chế cập nhật hàng năm hoặc khi có biến động lớn trên thị trường. Việc xây dựng bảng giá đất cần dựa trên kết quả khảo sát, thu thập thông tin giao dịch thực tế một cách khoa học. Nên thành lập một hội đồng định giá đất độc lập, với sự tham gia của các chuyên gia, tổ chức tư vấn chuyên nghiệp để đảm bảo tính khách quan. Một bảng giá đất phản ánh đúng thực tế sẽ là cơ sở vững chắc để tính đúng, tính đủ các khoản tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, qua đó tối ưu hóa nguồn thu cho địa phương.

IV. Phương pháp ứng dụng công nghệ và nâng cao năng lực quản lý

Công nghệ thông tin và nguồn nhân lực chất lượng cao là hai trụ cột chính để hiện đại hóa công tác quản lý. Việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý đất đai không còn là lựa chọn mà là yêu cầu tất yếu. Xây dựng một cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia, liên thông, và tích hợp với hệ thống quản lý thuế là mục tiêu chiến lược. Song song đó, cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị như Chi cục Thuế Thành phố Đồng Hới, Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Bình và chính quyền các cấp sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, triển khai thành công các giải pháp quản lý đất đai hiệu quả, góp phần làm tăng nguồn thu ngân sách nhà nước một cách bền vững và minh bạch.

4.1. Chuyển đổi số trong quản lý đất đai Xây dựng CSDL tập trung

Giải pháp cốt lõi là xây dựng một cơ sở dữ liệu đất đai (CSDL) số hóa, tập trung và thống nhất cho toàn thành phố Đồng Hới. Hệ thống này cần tích hợp bản đồ địa chính số, thông tin quy hoạch, tình trạng pháp lý của thửa đất, và lịch sử thực hiện nghĩa vụ tài chính. Dữ liệu phải được cập nhật theo thời gian thực và có cơ chế chia sẻ, liên thông giữa cơ quan Thuế, Tài nguyên - Môi trường, và các đơn vị liên quan. Việc ứng dụng công nghệ GIS (Hệ thống thông tin địa lý) sẽ giúp trực quan hóa dữ liệu, hỗ trợ hiệu quả cho công tác lập kế hoạch, thanh tra và quản lý biến động đất đai. Đây là nền tảng để triển khai các dịch vụ công trực tuyến, giảm thời gian và chi phí cho người dân, doanh nghiệp.

4.2. Tăng cường năng lực cho cán bộ Chi cục Thuế Thành phố Đồng Hới

Con người là yếu tố quyết định. Cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ cán bộ của Chi cục Thuế Thành phố Đồng Hới. Nội dung đào tạo cần tập trung vào các kỹ năng mới như phân tích dữ liệu lớn, sử dụng phần mềm quản lý hiện đại, và nghiệp vụ định giá đất theo phương pháp thị trường. Bên cạnh chuyên môn, cần chú trọng giáo dục đạo đức công vụ, nâng cao tinh thần trách nhiệm và phòng chống tiêu cực. Xây dựng một đội ngũ cán bộ thuế chuyên nghiệp, liêm chính và có năng lực là điều kiện tiên quyết để thực thi hiệu quả các chính sách tài chính đất đai và các giải pháp quản lý tiên tiến.

V. Kinh nghiệm thực tiễn và bài học quản lý nguồn thu hiệu quả

Việc nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm từ các địa phương khác có điều kiện tương tự là rất cần thiết. Luận văn của Đặng Thành Linh đã tham khảo kinh nghiệm từ Chi cục Thuế huyện Quảng Trạch và Lệ Thủy, cho thấy việc đẩy mạnh tuyên truyền, áp dụng cơ chế tự khai - tự nộp và triển khai kê khai thuế qua mạng mang lại hiệu quả rõ rệt. Những mô hình này đã giúp nâng cao ý thức tuân thủ của người nộp thuế, đồng thời giảm tải áp lực cho cơ quan thuế. Bài học rút ra cho Đồng Hới là cần phải kết hợp đồng bộ giữa việc cải cách chính sách với hiện đại hóa công cụ quản lý và tăng cường tương tác với người nộp thuế. Sự thành công không chỉ đến từ các giải pháp kỹ thuật mà còn phụ thuộc vào việc xây dựng được lòng tin và sự đồng thuận từ xã hội, đảm bảo quá trình quản lý nguồn lực đất đai được thực hiện một cách công bằng và hiệu quả nhất.

5.1. Phân tích mô hình quản lý thu tiền sử dụng đất thành công

Nhiều địa phương đã thành công trong việc áp dụng mô hình quản lý rủi ro trong kiểm tra, thanh tra thuế đất. Thay vì kiểm tra dàn trải, hệ thống sẽ dựa trên phân tích dữ liệu để xác định các hồ sơ, giao dịch có nguy cơ gian lận cao để tập trung nguồn lực kiểm tra. Bên cạnh đó, mô hình đối thoại định kỳ giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp, người dân cũng phát huy hiệu quả. Các buổi đối thoại giúp tháo gỡ kịp thời các vướng mắc, phổ biến chính sách mới và lắng nghe phản hồi từ đối tượng chịu tác động. Việc áp dụng những mô hình này sẽ giúp Chi cục Thuế Thành phố Đồng Hới chuyển từ quản lý bị động sang chủ động, nâng cao hiệu quả chống thất thu ngân sách từ đất.

5.2. Bài học kinh nghiệm cho Chi cục Thuế Thành phố Đồng Hới

Bài học quan trọng nhất là không có một giải pháp đơn lẻ nào có thể giải quyết triệt để vấn đề. Cần một cách tiếp cận tổng thể, kết hợp giữa hoàn thiện chính sách, hiện đại hóa công nghệ, nâng cao năng lực con người và tăng cường phối hợp liên ngành. Chi cục Thuế Thành phố Đồng Hới cần chủ động tham mưu cho UBND thành phố Đồng Hới trong việc điều chỉnh bảng giá đất, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Sự kiên trì, quyết liệt và đồng bộ trong triển khai sẽ là yếu tố quyết định thành công trong việc nâng cao quản lý nguồn thu từ đất.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ nâng cao công tác quản lý nguồn thu từ đất tại chi cục thuế thành phố đồng hới quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ NGUỒN THU THUẾ TỪ ĐẤT 1. TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ TỪ ĐẤT 1.1 Khái niệm Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật pháp quy định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tượng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Thuế là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã hội, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Trong đó có thuế sử dụng đất nói chung, là nguồn thu chủ lực của địa phương.

Theo Luật NSNN thì đây là nguồn thu 100% để lại ngân sách địa phương để sử dụng vào mục đích đầu tư cơ sở hạ tầng cho địa phương. Do đó, tại thời điểm nộp thuế, người nộp thuế không được hưởng bất kỳ một lợi ích nào mà xem như đó là trách nhiệm và nghĩa vụ đối với nhà nước. Như vậy, thuế mang tính cưỡng chế và được thiết lập theo nguyên tắc luật định. Bằng quyền lực chính trị của mình, nhà nước đã ban hành các loại thuế để tạo lập nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, các khoản thu này được bố trí sử dụng theo dự toán ngân sách nhà nước đã được phê duyệt cho tiêu dùng công cộng và đầu tư phát triển nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.

Như vậy, thuế phản ảnh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội, thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội. Bản chất, chức năng của thuế + Bản chất của thuế Thứ nhất, thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho Nhà nước mang tính bắt buộc, phi hình sự. Đặc điểm này đã thể hiện rõ nguồn hình thành nên các khoản thuế là thu nhập do hoạt động kinh tế 9 của các thể nhân và pháp nhân tạo ra. ở bất cứ một quốc gia nào, hệ thống thuế cũng bao gồm nhiều loại thuế nhằm điều chỉnh đối với nhiều đối tượng khác nhau.

Có loại thuế điều chỉnh thu nhập, có loại thuế điều chỉnh tiêu dùng, có loại thuế điều chỉnh tài sản., nhưng suy cho cùng thì chúng đều điều chỉnh đối với thu nhập của các tầng lớp trong xã hội. Các khoản thu nhập đó biến đổi trong quá trình kinh tế, hình thành các loại thu nhập khác nhau. Thông thường, cứ ứng với mỗi loại thu nhập có một loại thuế điều chỉnh để nhằm vào những mục tiêu điều tiết khác nhau của Nhà nước, với mức độ và phương thức huy động khác nhau. Đây là một nhận thức mới về thuế mà các nhà quản lý thuế cần quán triệt khi xây dựng chính sách thuế cũng như chỉ đạo thực thi chính sách.

Đồng thời lý luận này cũng lý giải vì sao người nộp thuế luôn luôn cho rằng họ phải chịu nhiều thứ thuế và thuế đánh trùng lên thuế. Qua đặc điểm này của thuế cho phép ta phân biệt được sự khác nhau giữa thuế với các hình thức động viên khác của tài chính Nhà nước. Tính bắt buộc của thuế thể hiện phương thức phân phối của Nhà nước mà kết quả của quá trình đó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế phải chuyển giao cho Nhà nước không kèm theo một sự cấp phát hay những quyền lợi trực tiếp nào cho người nộp thuế hưởng thụ. Tuy nhiên, tính bắt buộc của thuế khác với các khoản tiền phạt bắt buộc.

Tính bắt buộc của thuế thể hiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ của người công dân. Ngược lại, tính bắt buộc của các khoản tiền phạt thể hiện yêu cầu của cơ quan pháp quyền đối với người vi phạm pháp luật. Thứ hai, thuế là một khoản chuyển giao thu nhập không mang tính hoàn trả trực tiếp. Tính không hoàn trả trực tiếp thể hiện trên hai khía cạnh sau: - Sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những dịch vụ và hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp.

Người nộp thuế cũng không có 10 quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới thực hiện việc chuyển giao thu nhập cho Nhà nước. Mặt khác, mức độ cung cấp dịch vụ công cộng của Nhà nước cũng không nhất thiết ngang bằng mức độ chuyển giao thu nhập. Mức thu nhập chuyển giao nhiều hay ít chỉ căn cứ vào kết quả hoạt động kinh tế và mục tiêu phát triển kinh - xã hội cũng như nhu cầu tài chính chung của Nhà nước. - Khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không được hoàn trả trực tiếp, có nghĩa là người nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận được một phần các dịch vụ công cộng mà Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng, giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà họ nộp cho Nhà nước.

Thứ ba, việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế được qui định trước bằng pháp luật. Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý cao của thuế. Việc chuyển giao thu nhập không mang tính chất tuỳ tiện mà dựa trên cơ sở khoa học và đã được xác định trong các luật thuế. Nhà nước mà đại diện là cơ quan quản lý thu thuế không thể lạm dụng quyền hành một cách tùy tiện trong hoạt động thu thuế.

Việc thu thuế của Nhà nước phải được các tầng lớp dân cư thừa nhận thông qua người đại diện cao nhất của mình là Quốc hội. Quốc Hội xác lập quyền thu thuế của Chính phủ bằng hệ thống pháp luật về thuế. Những nội dung thường được xác định trước trong Luật thuế là: Đối tượng đánh thuế, đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn nộp thuế và các chế tài nhằm bảo đảm thực thi pháp luật một cách nghiêm minh. Thứ tư, Thuế là khoản thu nhập của Nhà nước chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia trong từng thời kỳ nhất định.

Thuế là hình thức động viên thu nhập từ các hoạt động kinh tế của các thể nhân và pháp nhân. Do đó thuế chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố về 11 kinh tế, đó là: mức độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, giá cả thị trường, sự biến động của NSNN. Tuy nhiên, thuế cũng có tính độc lập riêng. Nhà nước sử dụng công cụ thuế để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tác động trở lại nền kinh tế, ưu tiên, khuyến khích hay kìm hãm sự phát triển một số ngành nghề, lĩnh vực kinh tế theo yêu cầu chiến lược phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước.

Thuế có quan hệ chặt chẽ với lợi ích của các tầng lớp dân cư. Mà vấn đề lợi ích vật chất là vấn đề nhạy cảm, gắn chặt với vấn đề chính trị, xã hội. Do đó, thuế chịu sự chi phối bởi yếu tố chính trị, xã hội. Các yếu tố đó là: thể chế chính trị của Nhà nước, tâm lý, tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống văn hóa, xã hội của dân tộc.

Do thuế chịu sự ràng buộc của nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội như trên, nên người ta thường nói thuế mang ý nghĩa kinh tế, chính trị xã hội tổng hợp. + Chức năng của thuế Thuế không những là một phạm trù kinh tế mà còn là một phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính chung vốn có của các quan hệ tài chính. Tuy nhiên, thuế cũng có những đặc trưng, hình thức vận động và các chức năng riêng có của mình bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính. Hiện nay, có nhiều cách phân loại khác nhau về chức năng của thuế từ mức độ tổng quát cũng như mức độ cụ thể.

Nhìn chung, chức năng của thuế được thừa nhận từ lâu nay là chức năng phân phối và giám đốc. Tuy nhiên, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì thuế được nhìn nhận với nhiều chức năng chia nhỏ hơn với cách độc lập, đó là: - Chức năng huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước - Chức năng điều hòa thu nhập. - Chức năng bảo vệ, hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng. - Chức năng giao lưu và hợp tác kinh tế quốc tế 12 Thực chất, dù có xem chức năng của thuế theo khía cạnh hay góc độ nào đi chăng nữa, nhưng nhìn vào quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế, chúng ta có thể thấy thuế có hai chức năng cơ bản: chức năng huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước và chức năng điều chỉnh.

Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính cho Nhà nước Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho tất cả các dạng Nhà nước. Về mặt lịch sử, chức năng huy động nguồn lực tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh ra thuế. Nhờ chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính mà qũy tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước. Chính những chức năng này tạo ra những tiền đề để Nhà nước tiến hành phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân.

Sự phát triển và mở rộng các chức năng của Nhà nước đòi hỏi phải tăng cường chi tiêu tài chính, do đó, vai trò chức năng huy động và tập trung nguồn lực tài chính của thuế ngày càng được nâng cao. Nhà nước thông qua thuế tiến hành phân phối một bộ phận đáng kể tổng sản phẩm quốc nội. Thuế trở thành nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhất của tất cả các nước có nền kinh tế thị trường. Chức năng điều chỉnh Chức năng điều chỉnh của thuế được nhận thức và vận dụng rộng rãi từ những năm đầu của thế kỷ XX và gắn liền với vai trò điều chỉnh Nhà nước về kinh tế.

Việc tăng cường vai trò kinh tế - xã hội của Nhà nước dẫn đến tốc độ chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên và hậu quả tất yếu đòi hỏi Nhà nước phải mở rộng qũy tài chính Nhà nước mà nguồn hình thành chủ yếu từ thuế. Nhu cầu về nguồn lực tài chính càng lớn thì sự cần thiết phải tăng cường các chức năng của thuế càng cấp bách để tác động một cách có hiệu quả đến nền 13 kinh tế quốc dân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ