CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 1. Dạy học trải nghiệm 1. Một so nghiên cứu trên thế giới Tư tưởng học tập thông qua trải nghiệm đã được hình thành khá sớm trong tiềm thức của loài người.
Từ thời cồ đại, các triết gia đã đưa ra quan điểm rằng: Dạy học phải đảm bảo mối liên hệ với đời sống, giáo dục thông qua trò chơi, hoạt động ngoài lớp, ngoài thiên nhiên. Tuy nhiên, lý thuyết về DHTN mới được hệ thống hóa thành mô hình giáo dục bời các nhà giáo dục học hiện đại như: Kurt Lewin, John Dewey, D. James được xem là người khởi tạo lý thuyết học tập trải nghiệm trong triết học của ông về chủ nghĩa TN cấp tiến. Đóng góp nồi bật của ông là đưa ra quan điếm về trải nghiệm trong nhận thức sự vật, hiện tượng ở triết học, đó là khẳng định chân lý của một lý thuyết cần được kiểm nghiệm qua trải nghiệm thực tiễn, đồng thời ông cũng đưa ra một chu trình, tạo ra một dòng chảy trải nghiệm liên tục của quá trình nhận thức [46].
Lewin khẳng định rằng học tập sẽ đạt kết quả tối đa khi có sự xung đột căng thẳng biện chửng giữa kinh nghiệm cá nhân với việc phân tích giải quyết nhiệm vụ học tập, cuộc xung đột này có vai trò quan trọng làm thay đối và giúp người học tiến bộ hơn. Đóng góp lớn nhất của K. Lewin cho học thuyết học tập trải nghiệm là phát hiện ra chu trình và cách thức tồ chức học tập trải nghiệm cho người học, người học được học và đào tạo theo phương pháp “Phòng thí nghiệm" và "T - nhóm" (T = Training). Đó là cơ sở để các nhà khoa học kế tiếp hoàn thiện học thuyết về học tập trải nghiệm [48].
Dewey là người đưa ra quan điểm "học qua làm, học bắt đầu từ làm". Ông cho rằng chương trình dạy học và việc dạy học phải là quá trình xâu 7 chuỗi các thành tố trong kinh nghiệm cũ và mới của người học. Quá trình học tập phải là quá trình hình thành cái nhìn mới hứng thú và kinh nghiệm mới. Hiện tại, tư tưởng giáo dục của J.
Dewey về “học thông qua làm, học qua trải nghiệm" vẫn là một trong triết lý giáo dục điển hình của nước Mỹ và nhiều nước khác. Dewey đã ủng hộ mạnh mẽ việc DHTN khi tạo ra cả một trường học thí điềm tại Đại học Chicago và sau đó là hàng loạt trường khác trên khắp nước Mỹ [43]. Follett (1868-1933) đóng góp cho lý thuyết học tập trải nghiệm với công trình về “Mối quan hệ học tập, trải nghiệm và sáng tạo". Follett, chìa khóa để sáng tạo, ý chí và sức mạnh nằm sâu trong kinh nghiệm [45].
Năm 1971, lý thuyết học tập trải nghiệm của D. Kolb chính thức được công bố lần đầu tiên với tư cách là lý thuyết tương đối toàn diện về một phương thức học tập tích lũy, chuyển hóa kinh nghiệm. Phương pháp này dựa trên mô hình kim tự tháp học tập, trong đó thể hiện phần trăm hiệu quả ghi nhớ kiến thức và ứng dựng cùa người học với các hình thức đào tạo khác nhau. DHTN là một quá trình phát triền kiến thức, kĩ năng và thái độ của người học dựa trên một ý thức về trải nghiệm nào đó đã có từ trước.
Do đó, DHTN liên quan trực tiếp đến cá nhân và hoạt động có tính phản ánh. Theo tác giả, DHTN là một chu trình gồm 4 giai đoạn [48]: (i) Trải nghiệm - Bản thân tự trải nghiệm một tình huống cụ thể, sau đó quan sát ảnh hưởng của trải nghiệm; (ii) Tái tạo - Hiếu những gì bạn đã làm, suy nghĩ và cảm nhận về những điều đã trải nghiệm; (iii) Tổng quát - Tìm ra nguyên tắc đằng sau mối quan hệ giữa hành động và những ành hưởng của trải nghiệm; (iv) Áp dụng - Vận dụng nguyên tắc tổng quát vào một tình huống mới. Hiệp hội Giáo dục Trải nghiệm (Association for Experiential Education -AEE) đã được thành lập vào đầu những năm 1970 tại Boone (một thị trấn của Quận Watauga, Bắc Carolina, Hoa Kỳ) bởi một nhóm các nhà giáo dục tin rằng cốt lõi của việc học được nâng cao bởi các hình thức giáo dục trài nghiệm. Tính đến cuối năm 2023, AEE đã có trên 2200 thành viên trên toàn cầu đến từ hơn 25 quốc gia có đóng góp đáng kể trong thúc đẩy giáo dục trải nghiệm [57].
Một sô nghiên cứu ở Việt Nam Ớ Việt Nam, tuy việc tiếp cận với các mô hình DHTN không sớm, song hiện nay DHTN đã nhận được nhiều sự quan tâm từ các nhà giáo dục cũng như hệ thống giáo dục. Người đầu tiên nghiên cứu phát triển ứng dụng lý thuyết hoạt động vào nhà trường chính là tác giả Phạm Minh Hạc. Theo ông, thông qua hoạt động của chính cá nhân, băn thân người học mới được hình thành và phát triển. Như vậy, trong học tập và giáo dục, việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và các giá trị xã hội là hoạt động của người học.
Con người có tự hoạt động mới biến kiến thức, kinh nghiệm mà xã hội tích lũy được thành tri thức của băn thân. “Hoạt động” không chỉ rèn luyện trí thông minh, mà còn thu hẹp sự “ép buộc” của các nhà giáo dục thành sự hợp tác bậc cao giữa người dạy và người học [13], Ngày 4/11/2013 tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, Nghị quyết sổ 29- NQ/TW được ban hành về “Đồi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị r r _ _. A trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quôc tê”. Nội dung đê án hoàn toàn phù hợp với những quan diêm, tư tưởng cúa nên giáo dục tiên bộ (mà trung tâm là lý thuyết học tập trải nghiệm).
Trong quan điểm chỉ đạo 9 “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất nguời học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” nhấn mạnh đến dạy học phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học [2], Bản chất chung nhất của đào tạo theo năng lực là việc phát triền kinh nghiệm nền tảng của người học theo hướng đáp ứng mục tiêu đào tạo. Như vậy, chúng ta có thể thấy giáo dục bằng trải nghiệm cũng đã được nhấn mạnh trong các văn kiện của Đảng. Nghiên cứu của tác giả Cao Cự Giác, Trần Thị Gái, Phan Thị Thanh Hội (2017) đã kết luận: Học tập qua trải nghiệm là một chiến lược trong dạy học các môn khoa học ở trường trung học, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học.
Mô hình DHTN là cơ sở đề lựa chọn và tổ chức linh hoạt các loại • J • • • • • hình trải nghiệm thành một chu trình học tập qua trãi nghiệm. Khi các hoạt động học tập này được tố chức tốt thì sẽ rèn luyện cho HS kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tạo động cơ học tập tích cực, tăng hửng thú học tập cho HS và phát triển năng lực cho người học [53]. Tác giả Lê Thị Phượng, Nguyễn Thị Bích Dậu (2019) trong nghiên cứu “Vận dụng mô hình VESTED trong dạy học Sinh học 10 Trung học phổ thông” đã khẳng định mô hình DHTN VESTED (V -View, E - Experience, s - Speaking, T - Transform, E - Extend, D - Deliver) kích thích, tạo sự hứng thú cho HS, giúp HS tiếp thu kiến thức và phát triến năng lực tốt hơn các phương pháp truyền thống khác [29], Bùi Thị Ngọc Ánh (2022) đã thiết kế hoạt động DHTN theo CDIO: Conceive (hình thành ý tưởng) - Design (thiết kế ý tưởng) - Implement (thực hiện ý tường) - Operate (vận hành ý tưởng), ứng dụng CDIO giúp chương trình DHTN được xây dựng và thiết kế theo một quy trình hoàn thiện, các công đoạn có tính liên thông và gắn kết chặt chẽ [26]. 10 Cũng đã có nhiêu nghiên cứu vê DHTN trong môn KHTN câp THCS như: “Thiết kế hoạt động trải nghiệm bằng phương thức tham quan nhằm phát triển năng lực KHTN cho HS trong dạy học KHTN lớp 8” của Phạm Đình Văn và cộng sự (2021) đã kết luận tổ chức DHTN bằng phương thức tham quan không chỉ phát triển được các năng lực nhận thức KHTN, tìm hiếu tự nhiên, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học mà còn góp phần giáo dục môi trường cho HS.
Tác giả Nguyễn Đức Huân (2022) đã tổ chức hai chủ đề DHTN môn KHTN 6 và qua thực nghiệm sư phạm đánh giá được HS rất hứng thú, tích cực học tập, đồng thời giải quyết các vấn đề học tập sáng tạo, hiệu quả, đề xuất được các ý tướng mới trong quá trình học tập trong các nghiên cứu “Tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học chủ đề “Trái đất và bầu trời”, môn KHTN lớp 6 theo định hướng phát triển năng lực HS” và “ Tổ chức hoạt động trải nghiệm chủ đề “Năng lượng và cuộc sống” (KHTN lớp 6) theo hướng phát triền năng lực giải quyết vấn đề cho HS”. Nghiên cứu “Quản lí hoạt động trài nghiệm môn KHTN theo định hướng giáo dục STEM ở trường THCS” của Phạm Nguyễn cẩm Tú, Trần Văn Đạt, Phan Ngọc Thạch (2022) xác định các nội dung như chủ thể quản lí, ý nghĩa của việc quản lí, xây dựng kế hoạch hoạt động, tố chức, chỉ đạo hoạt động và kiểm tra đánh giá kết quả tổ chức DHTN ở trường THCS. Các nghiên cứu về DHTN đều cho thấy tác dụng của việc phát triển năng lực và phẩm chất của người học thông qua các trải nghiệm của HS. Đây là một xu thế tất yếu trong đổi mới giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực để đạt được mục tiêu của CT GDPT 2018.
Năng lực tự học 1. Một số nghiên cứu trên thế giới Học tập là một vấn đề rất rộng lớn và mang tính chất giáo dục. Tri thức của nhân loại ngày càng được tích lũy nhiều đòi hởi phải nâng cao hiệu quả học tập. Tự học rất hữu ích cho việc nâng cao hiệu quà học tập; đó là quá 11 trình người học tự giác tìm tòi, học hỏi, tiêp thu, tích lũy những kiên thức.
Vấn đề tự học cũng đã được các nhà giáo, nhà khoa học trên thế giới quan tâm từ rất sớm. Khổng Tử (551- 479 TCN) cho rằng cần quan tâm và coi trọng mặt tích cực suy nghĩ, sáng tạo của học trò trong học tập.