CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ LIÊN NGÂN HÀNG 1. Một số vấn đề cơ bản về thị trường tiền tệ liên ngân hàng 1. Khái niệm thị trường tiền tệ liên ngân hàng Trong nền kinh tế thị trường luôn xuất hiện tình trạng có một số người có cơ hội đầu tư sinh lời trên thị trường nhưng lại thiếu vốn, trong khi đó có một số người để dành được một số vốn nhất định nhưng không tìm được cơ hội đầu tư sinh lời. Thị trường tài chính là thị trường trong đó các nguồn lực tài chính được dịch chuyển từ những người thừa vốn sang những người thiếu vốn.
Thị trường tài chính bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ. Thị trường tiền tệ (TTTT) là một bộ phận của thị trường tài chính, nơi thực hiện các giao dịch vốn ngắn hạn (có thời hạn dưới 12 tháng) [10]. Là một cấu phần quan trọng của thị trường tiền tệ, thị trường liên ngân hàng được hiểu là nơi mà các nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các TCTD được đáp ứng. Các nhu cầu vốn này tồn tại dưới dạng hoạt động cho vay/gửi tiền liên ngân hàng, mua bán có kỳ hạn giấy tờ có giá (GTCG) liên ngân hàng (hoạt động repos), mua/bán ngoại tệ liên ngân hàng.
Nhu cầu phát sinh các giao dịch trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng chủ yếu là do sự không ăn khớp giữa nhu cầu chi tiêu thực tế và số tiền dự kiến chi tiêu của các chủ thể tham gia thị trường. Thông thường, để giảm thiểu chi phí các TCTD phải dự trữ một khối lượng tiền tệ nhất định để bảo đảm các chi trả trong một thời gian nhất định. Tuy nhiên, sự cân bằng này rất dễ bị phá vỡ do nhiều nhân tố tác động trên thị trường. Vì vậy, để làm cân bằng tức thời trạng thái của mình tại một thời điểm nhất định, các TCTD thường phải bổ sung thêm nguồn vốn bằng cách đi vay lẫn nhau trên TTLNH.
Việc vay mượn này có thể giúp các 5 z TCTD có thể nhanh chóng huy động được một lượng vốn lớn để đáp ứng những thiếu hụt vốn tạm thời đó. Mặt khác, do sự thiếu chính xác của kế hoạch dự trữ dưới tác động của các yếu tố thị trường (dự trữ cao hơn hoặc thấp hơn mức chi tiêu thực tế) mà các TCTD có thể đầu tư số tiền dự trữ vượt ra thị trường trong một thời gian ngắn để tạo ra thu nhập hoặc có thể bù đắp thiếu hụt bằng cách vay ngắn hạn tạm thời trên thị trường. Ngoài ra, các TCTD có thể bù đắp thiếu hụt vốn tạm thời của mình bằng cách bán đi các tài sản tài chính, tuy nhiên việc này có thể khiến cơ cấu tài sản của TCTD bị thay đổi, làm mất khả năng sinh lời tiềm năng có thể tạo ra bởi các tài sản tài chính đó. Do đó, các TCTD có thể tham gia hoạt động mua, bán có kỳ hạn GTCG (repos) mà kỳ hạn giao dịch dưới 12 tháng trên TTLNH.
Các giao dịch này thỏa mãn đồng thời nhu cầu vay mượn ngắn hạn giữa các TCTD mà không làm mất đi quyền sở hữu đối với GTCG; và tạo ra một thị trường thứ cấp cho các công cụ nợ, GTCG. Vai trò, chức năng của thị trường tiền tệ liên ngân hàng - Đảm bảo cân đối, điều hoà khả năng chi trả giữa các ngân hàng. Thực tiễn cho thấy thị trường tiền gửi và cho vay giữa các ngân hàng là thị trường hoạt động tích cực nhất, góp phần sử dụng có hiệu quả nguồn vốn khả dụng và bảo đảm khả năng chi trả cho các ngân hàng. Thứ nhất, đối với các ngân hàng, TTLNH là thị trường thanh khoản, vì vậy thị trường này sẽ bù đắp những thiếu hụt vốn khả dụng tạm thời của các ngân hàng do dự báo vốn khả dụng chưa chuẩn xác.
Giao dịch cho vay/đi vay qua đêm là thời hạn lý tưởng để các ngân hàng điều chỉnh vốn khả dụng. Thứ hai, do NHTƯ thực hiện công cụ dự trữ bắt buộc theo phương thức bình quân nên các ngân hàng được sử dụng linh hoạt tiền gửi của mình, miễn là số dư bình quân của các ngày trong kỳ tối thiểu bằng mức quy định của NHTƯ. Các ngân hàng có thể sử dụng tài khoản tiền gửi của mình thấp hơn 6 z mức dự trữ tối thiểu mà NHTƯ quy định và những ngày còn lại thì ngân hàng phải vay trên thị trường (hoặc bằng những cách khác) để duy trì số dư vượt quá mức tối thiểu, nhằm đảm bảo dự trữ bình quân không thấp hơn mức quy định. Các giao dịch cho vay/đi vay qua đêm trên TTLNH là hình thức phù hợp để bảo đảm mục tiêu duy trì dự trữ bình quân theo quy định.
- Lãi suất hình thành trên TTLNH được coi là lãi suất tham chiếu cho nền kinh tế. Ví dụ, lãi suất giao dịch bình quân liên ngân hàng tại London (LIBOR) được nhiều ngân hàng tham chiếu để xác định lãi suất giao dịch, lãi suất huy động và lãi suất cho vay, trên cơ sở cộng thêm một biên độ (phản ánh mức độ rủi ro đối với từng đối tượng giao dịch) nhất định. Như vậy, nếu NHTƯ kiểm soát được lãi suất TTLNH thì có thể định hướng và kiểm soát được các mức lãi suất khác của nền kinh tế. Thị trường này sẽ chuyển các tác động đến các thị trường tài chính khác như thị trường chứng khoán, thị trường ngoại hối.; từ đó tác động đến các thị trường hàng hóa, tài sản và tác động đến nền kinh tế.
- Là thị trường mà NHTƯ có thể sử dụng để điều hành CSTT, là nơi phát đi các tín hiệu cho việc hoạch định CSTT của NHTƯ một cách kịp thời và chính xác. Các thông tin về lãi suất thị trường liên ngân hàng, nhất là lãi suất qua đêm và lãi suất giao dịch bình quân các kỳ hạn ngắn sẽ phản ánh nhiều thông tin về sự thừa thiếu vốn khả dụng của các ngân hàng, từ đó là cơ sở để NHTƯ nắm bắt một cách nhanh nhạy nhu cầu vốn của nền kinh tế để có thể sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ một cách thích hợp. Thông qua TTLNH, NHTƯ có thể: Thực hiện tác động thông qua cơ chế tác động về lượng: trước tiên ngân hàng trung ương tác động lên dự trữ của hệ thống ngân hàng thông qua hành vi mua bán GTCG trên thị trường mở. Sự thay đổi dự trữ của hệ thống ngân hàng sẽ làm thay đổi lượng tiền cơ bản (MB) từ đó sẽ làm thay đổi cung 7 z tiền (MS) thông qua khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng (m).
Sự thay đổi trên sẽ kéo theo sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng và đầu tư của các chủ thể trong xã hội. Cơ chế này thường phát huy hiệu quả khi điều kiện thị trường chưa phát triển và quan hệ cung cầu của thị trường bị chi phối mạnh bởi các yếu tố phi lãi suất. Công cụ CSTT Dự trữ ngân hàng Lãi suất LNH Dư nợ tín dụng Lãi suất thị trường Giá tài sản Lãi suất thực Tỷ giá Tài sản tài chính Tổng cầu AD Hình 1.1: Cơ chế tác động của Chính sách tiền tệ qua lãi suất (Nguồn: Giáo trình NHTƯ) Thực hiện tác động thông qua cơ chế tác động về giá (lãi suất): cơ chế tác động về giá là cơ chế chuyển tải tác động của chính sách tiền tệ tới nền kinh tế thông qua phản ứng dây chuyền giữa các mức lãi suất và các loại giá cả trên thị trường tài chính. Quy trình này có thể được chia làm nhiều khâu với các tác nhân tham gia khác nhau.
Trước tiên, ngân hàng trung ương tác động làm thay đổi dự trữ của hệ thống ngân hàng, từ đó thay đổi lượng cung trên thị trường liên ngân hàng và làm cho lãi suất trên thị trường này thay đổi. Với vai trò là giá cả của việc sử dụng vốn trên thị trường liên ngân hàng, khi lãi suất liên ngân hàng thay đổi sẽ dẫn tới chi phí sử dụng vốn của các ngân hàng tăng lên hay giảm đi đáng kể. Điều đó sẽ làm lãi suất đầu ra (lãi suất cho 8 z vay) của các ngân hàng thay đổi và làm thay đổi đến hành vi đầu tư, tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội, làm thay đổi các chỉ số vĩ mô của nền kinh tế. - Quan hệ chặt chẽ với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, như tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP), tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp.
Khi lãi suất TTLNH xuống thấp, kích thích công chúng và các nhà đầu tư đầu tư vào sản xuất kinh doanh, hệ quả tất yếu là tốc độ tăng trưởng GDP sẽ cao, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho xã hội; khi đầu tư quá “nóng” và không hiệu quả thì lạm phát sẽ có xu hướng tăng cao. Vì vậy, NHTƯ có thể chủ động tác động tới lãi suất TTLNH để tạo ra một hệ thống các chỉ tiêu vĩ mô hợp lý trong từng thời kỳ. Ví dụ, khi nền kinh tế có biểu hiện suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao thì NHTƯ có thể áp dụng CSTT mở rộng và duy trì một mức lãi suất NVTTM thấp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và khi tỷ lệ lạm phát tăng cao thì NHTƯ chủ động thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ đồng thời duy trì lãi suất ở mức cao. Đặc trưng cơ bản của thị trường tiền tệ liên ngân hàng - Thị trường liên ngân hàng là thị trường bán buôn và có độ an toàn cao vì các chủ thể tham gia thị trường đều là các tổ chức có uy tín (NHTƯ, TCTD, các tổ chức tài chính.) và các giao dịch có thời hạn ngắn nên ít tiềm ẩn những rủi ro phát sinh.
Phần lớn các giao dịch trên thị trường cho vay và tiền gửi liên ngân hàng đều không có bảo đảm bằng tài sản và ít có rủi ro xảy ra. - Thời hạn giao dịch trên TTLNH thường ngắn, từ qua đêm cho đến dưới 1 năm, trong đó thời hạn giao dịch dưới 3 tháng và rất ngắn (cho vay qua đêm) là chủ yếu. Tỷ trọng của các giao dịch có thời hạn dưới 3 tháng ở các nước có thị trường phát triển thường chiếm tỷ trọng trên 70%, trong đó giao dịch qua đêm (cho vay/đi vay và các giao dịch Repos) thường chiếm tỷ trọng trên 50%. Các giao dịch qua đêm chiếm tỷ trọng lớn, nhằm đáp ứng nhu cầu 9 z vốn khả dụng tạm thời của các chủ thể tham gia thị trường, cũng như tận dụng triệt để nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các thành viên.