đặt vấn đề. Bên cạnh đó, năng lực sáng tạo của con người được tác giả nghiên cứu ở khía cạnh những phẩm chất nhân cách tiêu biểu của các cá nhân có năng lực sáng tạo ở mức cao, đặc biệt là thiên tài. Về vấn đề này, tác giả nhận định “hình như một trong những điều kiện để phát triển tài năng là tự do, không vâng lời” [102, tr. Đây là quan điểm đúng đắn mà tác giả của luận án có thể tiếp thu.
Kế đến là cuốn Giáo trình Tâm lý học sáng tạo của Huỳnh Văn Sơn xuất bản năm 2009. Ở cuốn sách này, những nội dung cơ bản về sáng tạo như khái niệm sáng tạo, tư duy sáng tạo, động cơ sáng tạo, các giai đoạn sáng tạo, trình độ sáng tạo được tác giả trình bày (với sự tổng hợp của nhiều tài liệu tham khảo) một cách mạch lạc, khúc triết có sự hợp lý nhất định mà tác giả của luận án có thể kế thừa. Chẳng hạn, tác giả quan niệm “tư duy sáng tạo là khả năng giải quyết vấn đề hiệu quả dựa trên sự phân tích lựa chọn các giải pháp tốt nhất có thể có. Cách giải quyết vấn đề này thường là mới, mang tính sáng tạo và hướng đến xu thế tối ưu” [89, tr.
Tuy vậy, ở công trình nghiên cứu này nếu xâu chuỗi các quan điểm lý luận về sáng tạo thì vẫn còn thiếu tính chỉnh thể của một lý thuyết hoàn chỉnh. Về năng lực sáng tạo của con người, tác giả đề cập ở khía cạnh đo lường năng lực sáng tạo. Việc đo lường có thể bằng nhiều cách, trong cuốn sách tác giả trình bày sự đo lường năng lực sáng tạo thông qua các trắc nghiệm. Về thực chất của sự đo lường, tác giả nhận định “Thực chất của việc đo lường năng lực sáng tạo là việc đánh giá năng lực sáng tạo theo chuẩn đo lường được xác định và thiết lập trước một cách khoa học” [89, tr.97] , đây là ý kiến xác đáng mà luận án có thể tiếp thu và phát triển.
Có thể nói, cuốn sách là một trong những tài liệu tham khảo quan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trọng cho luận án, cung cấp nhiều tư liệu cần thiết để có thể tổng hợp và kế thừa những yếu tố hợp lý. Ngoài ra, còn có cuốn Giáo trình Tâm lý học sáng tạo của Phạm Thành Nghị, xuất bản năm 2012. Với cách làm bài bản tập trung khảo cứu chủ yếu các tác phẩm bằng tiếng Anh, tác giả không chỉ trình bày những vấn đề của sáng tạo trên diện rộng dưới góc độ của Tâm lý học mà còn trình bày cơ sở sinh học và cơ sở xã hội của sáng tạo. Điều quan trọng hơn công trình đã đề cập đến gần như tất cả những nội dung về sáng tạo mà luận án quan tâm nghiên cứu như định nghĩa sáng tạo, đặc điểm sáng tạo, các giai đoạn sáng tạo, ý tưởng sáng tạo, động cơ sáng tạo.
Tuy nhiên, ở công trình nghiên cứu này các quan điểm lý luận về sáng tạo chưa được định hình một cách hệ thống, chỉnh thể. Về năng lực sáng tạo của con người, tuy chưa đưa ra định nghĩa khái niệm “năng lực sáng tạo” nhưng tác giả có sự tổng kết, nghiên cứu sâu về vấn đề phát triển năng lực sáng tạo của con người. Năng lực sáng tạo của mỗi người đều có thể nâng cao, phát triển được thông qua đào tạo, tạo dựng môi trường và nâng cao động lực. Tác giả nhận định “phát triển năng lực sáng tạo thông qua việc tăng cường ba thành tố trong cấu trúc hoạt động giải quyết vấn đề mới: động cơ, hành động lôgíc và hành động trực giác” [74, tr.
Nhìn chung, đây là công trình quan trọng đối với luận án vì đã cung cấp nhiều tư liệu về những vấn đề của sáng tạo, năng lực sáng tạo với không ít những yếu tố tích cực mà luận án có thể kế thừa và phát huy, hơn nữa tác giả đã đưa ra bức tranh tương đối đầy đủ về sáng tạo dưới góc độ Tâm lý học trên cơ sở tổng kết những công trình tiêu biểu trên thế giới. Cuốn sách Sáng tạo và những điều kiện chủ yếu để kích thích sự sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay đã nêu của tác giả Lê Huy Hoàng không chỉ đề cập đến khái niệm sáng tạo dưới góc độ triết học mácxít mà còn đưa ra quan niệm về một số vấn đề khác của sáng tạo. Tác giả đã nêu các cấp độ của sáng tạo, một số loại hình sáng tạo cơ bản trong hoạt động sống của con người. Quan trọng hơn, về năng lực sáng tạo, tác giả đã giành nhiều trang viết về những yếu tố chủ quan và khách quan quy định năng lực sáng tạo của con người.
Rồi từ đó tác giả khẳng định sự kết hợp hài hòa giữa cá nhân và xã hội hay giữa yếu tố chủ quan và khách quan chính là điều kiện cần thiết để phát huy năng lực sáng tạo của con người. Quan niệm này là một trong những cơ sở để tác giả luận án đưa ra quan điểm riêng về việc nâng cao năng lực sáng tạo trên cơ sở kế thừa yếu tố hợp lý trên. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhìn chung, cuốn sách này là một trong những tư liệu quan trọng mà luận án có thể chọn lọc tiếp thu, bổ sung thêm những quan niệm mới về một số vấn đề của sáng tạo nhất là phương hướng nâng cao năng lực sáng tạo của con người. Hiện nay, trên thế giới lý thuyết về sáng tạo và (chủ yếu) phương pháp luận sáng tạo lớn, chuyên sâu và có hệ thống là “Lý thuyết giải các bài toán sáng chế” (TRIZ) của nhà bác học G.
Altshuller (1926 - 1998) (Liên Xô cũ) - được thế giới tôn vinh là cha đẻ của khoa học sáng tạo hiện đại. Ông xây dựng TRIZ từ năm 1946. TRIZ là lý thuyết lớn với hệ thống công cụ hoàn chỉnh nhất trong khoa học sáng tạo. Có thể nhấn mạnh đến lý thuyết này với 9 quy luật phát triển hệ thống, 40 nguyên tắc sáng tạo cơ bản để khắc phục các mâu thuẫn kỹ thuật, 11 biến đổi mẫu dùng để khắc phục các mâu thuẫn vật lý, hệ thống 76 chuẩn dùng để giải các bài toán sáng chế và đặc biệt ARIZ - chương trình giải các bài toán kỹ thuật.
Với tư cách là người học trò trực tiếp của G. Altshuller, Phan Dũng - giám đốc Trung tâm Sáng tạo khoa học kỹ thuật (TSK) đã du nhập, truyền bá, phát triển và mở rộng TRIZ ở Việt Nam. Ông đã viết bộ sách Sáng tạo và đổi mới gồm 10 tập xuất bản trọn bộ năm 2012. NCS thấy rằng, bộ sách này lấy TRIZ làm trục trung tâm và mở rộng theo các hướng: 1/ Về phía các nguồn kiến thức của TRIZ; 2/ Về phía các lĩnh vực không phải là kỹ thuật để thấy được phạm vi áp dụng rộng lớn của TRIZ; 3/ Về phía các phương pháp, các phương pháp luận sáng tạo khác đang có hiện nay để người học có thể cảm nhận khả năng của TRIZ, nếu được phát triển tiếp, sẽ trở thành lý thuyết rộng lớn, có thể bao quát những cái hiện có.
Trong 10 tập đó, có 3 tập đầu tiên trực tiếp bàn về những vấn đề của sáng tạo, là những tập sau. Tập 1: Giới thiệu: Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới. Đây là tập có nhiều nội dung liên quan trực tiếp đến sáng tạo, trong đó tác giả đã trình bày một số khái niệm và nội dung cơ bản về sáng tạo như: định nghĩa khái niệm sáng tạo, vấn đề, các giai đoạn của sáng tạo, mức độ sáng tạo, tư duy sáng tạo. Bên cạnh một số hạn chế nhất định (chủ yếu do lĩnh vực nghiên cứu chính của TRIZ là lĩnh vực khoa học kỹ thuật) nhìn chung quan niệm của tác giả về những khái niệm này là một trong những cơ sở để luận án đưa ra quan niệm đầy đủ và khái quát hơn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tập 2: Thế giới bên trong con người sáng tạo trình bày các hiện tượng thuộc thế giới bên trong con người và ảnh hưởng của chúng lên các hành động của cá nhân. Hơn nữa, tập sách đã xem xét tư duy con người trong ngữ cảnh mô hình nhu cầu - hành động và bàn về việc điều khiển các hiện tượng thuộc thế giới bên trong con người nhằm khai thác tối ưu năng lực của tư duy. Đây là tài liệu tham khảo cần thiết cho NCS nghiên cứu về chủ thể sáng tạo. Tập 3: Tư duy lôgíc, biện chứng và hệ thống.
Ở tập này, bên cạnh việc trình bày các quy tắc của lôgíc hình thức và phép biện chứng, thì điều đáng quan tâm hơn là tác giả đã trình bày mối quan hệ giữa phát triển và sáng tạo, các loại mâu thuẫn nảy sinh trong giải quyết vấn đề và ra quyết định. Đây là tài liệu tham khảo cho NCS khi nghiên cứu về biện chứng của hoạt động sáng tạo. Bên cạnh những công trình có tính chất chuyên sâu về sáng tạo nêu trên, còn có một vài công trình bước đầu bàn về một số vấn đề của sáng tạo nói chung, năng lực sáng tạo nói riêng và đã đạt được những thành tựu nhất định như: - Cơ sở khoa học của sự sáng tạo của tác giả Nguyễn Văn Lê xuất bản năm 1998 đã trình bày một số cơ sở khoa học của việc giáo dục tính sáng tạo cho thanh thiếu niên. Tác giả khái quát một số vấn đề liên quan đến sáng tạo như: năng lực, tài năng, tính sáng tạo, nguyên nhân của sự sáng tạo, mối quan hệ giữa thông minh và sáng tạo… trong đó nổi bật là định nghĩa của tác giả về “thông minh”: “Người thông minh là người có khả năng (năng lực) ở mức cao trong việc tiếp thu vấn đề và phản xạ nhanh, có năng lực tư duy cao (óc suy diễn quy nạp, khái quát hóa, trừu tượng hóa…)” [57, tr.
Trong cuốn sách, tác giả đã đề cập đến cơ sở sinh lí thần kinh của hoạt động sáng tạo, cơ sở tâm lý học của sự sáng tạo và khía cạnh xã hội của hoạt động sáng tạo. Đây là cách tiếp cận về sáng tạo trên nhiều phương diện, tuy nhiên lại chưa được tác giả phân tích chi tiết. Về nâng cao năng lực sáng tạo của con người, tác giả tập trung bàn về việc chăm sóc não bộ để nó phát huy năng lực sáng tạo ở mức cao nhất. Nhìn chung, cuốn sách là tư liệu giúp chúng tôi tìm hiểu về sáng tạo từ nhiều góc độ và tầm quan trọng của não bộ đối với năng lực sáng tạo.