Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC, NĂNG LỰC QUẢN LÝ HIỆU TRƯỞNG, PHÓ HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG HỌC CÔNG LẬP TRỰC THUỘC CẤP HUYỆN 1. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Năng lực và năng lực quản lý 1. Khái niệm năng lực và các yếu tố cấu thành năng lực - Khái niệm năng lực Năng lực là một phạm trù từng được bàn đến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì năng lực được hiểu là: khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó với chất lượng cao [34, tr. Năng lực còn được hiểu là khả năng làm việc tốt [34, tr.376]; năng lực là sức làm việc [30, tr. Theo nghĩa rộng, năng lực cán bộ là khả năng làm việc hay khả năng lao động, là toàn bộ các thuộc tính thể lực và tinh thần của con người cần thiết để lao động có ích cho xã hội, được hình thành do sự phát triển về thể chất và văn hóa của cá nhân, do trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, do nắm được các kỹ năng và tài quan hệ trong lao động [15, tr. Theo nghĩa hẹp, năng lực cán bộ là khả năng hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, nó bao hàm kiến thức, kỹ năng và nhân cách.
Đó là tổng hợp các yếu tố chuyên môn được đào tạo, kinh nghiệm làm việc, năng khiếu cá nhân, yếu tố tiềm năng hoặc thiên bẩm nâng cao khả năng làm việc. Năng lực luôn được xác định trong một điều kiện, hoàn cảnh nhất định, với nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng. Vì vậy, khi đánh giá về năng lực phải gắn với điều kiện, môi trường làm việc. Những cá nhân có kiến thức, kỹ năng và thái 8 độ như nhau nhưng làm việc ở những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau sẽ thể hiện, bộc lộ và phát huy năng lực khác nhau.
Nếu chỉ quan tâm đến kết quả cuối cùng khi đánh giá năng lực mà không chú ý đến môi trường, điều kiện làm việc là một sự phiến diện. Do vậy, dưới góc độ đánh giá so sánh, chỉ những người làm việc trong một môi trường hoặc các môi trường làm việc tương đối giống nhau thì mới có thể so sánh năng lực giữa họ một cách chính xác. Từ phân tích ở trên, tác giả cho rằng: Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết - kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm và sự sẵn sàng hành động - thái độ cá nhân. - Các yếu tố cấu thành năng lực Năng lực của cán bộ được hình thành và phát triển trong quá trình thực thi công việc; được cấu thành bởi nhiều yếu tố, trong đó kiến thức, kỹ năng, thái độ là ba yếu tố quan trọng nhất.
+ Về kiến thức, là những hiểu biết khoa học cơ bản trên các lĩnh vực trong tự nhiên và xã hội. Những hiểu biết này có được là do quá trình giáo dục, đào tạo, học tập ở trường lớp hoặc do tự học tập với các hình thức khác nhau. Nhờ những kiến thức cơ bản này mà cá nhân có sự nhìn nhận vấn đề khách quan, khoa học, có khả năng quan sát, nhận xét tư duy, xét đoán và quyết định hành động phù hợp, kịp thời và đúng thời điểm. Lý luận chính trị là một nội dung nhận thức quan trọng của mỗi cán bộ.
Có lý luận tốt chưa đủ, yêu cầu đặt ra là cán bộ quản lý phải vừa có trình độ lý luận vững vàng, vừa bám sát thực tiễn, kết hợp giữa lý luận với thực tiễn. Trong điều kiện, hoàn cảnh mới hiện nay, cán bộ quản lý phải tìm hiểu, phân tích sâu sắc để nhận thức một cách bản chất, khoa học các quá trình kinh tế - 9 xã hội đang diễn ra, phải thu thập đầy đủ các dữ liệu để giải các bài toán do thực tiễn đề ra. + Về kỹ năng, là khả năng vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đó được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng. Như vậy, trên nền tảng kiến thức đã có và kinh nghiệm tích lũy, cán bộ quản lý cần có kỹ năng khác nhau.
Đối với cán bộ quản lý cần có các kỹ năng chỉ đạo, điều hành; kỹ năng hoạch định chiến lược, chính sách,… Kỹ năng thực thi công vụ hình thành trong quá trình học tập, rèn luyện và thực thi nhiệm vụ. Chỉ có bản thân cán bộ quản lý thông qua thực hành thì mới có thể định hình và nâng cao kỹ năng của cá nhân mình. Các kỹ năng quản lý trường học đòi hỏi vận dụng rất linh hoạt. Vì vậy, trước hết cán bộ quản lý phải được huấn luyện, hướng dẫn thực hiện các kỹ năng cơ bản và từng bước hoàn thiện, nâng cao.
+ Về thái độ thực thi công vụ, là sự đánh giá đúng, sai và sự nỗ lực tự thân, sự cố gắng, mức độ nhiệt tình, ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với công việc mà mình đang thực hiện. Thái độ ảnh hưởng rất lớn đến năng lực quản lý của cán bộ quản lý. Nhiều cán bộ quản lý có trình độ, kiến thức tốt, kỹ năng vững vàng nhưng không hoàn thành được nhiệm vụ do có thái độ không đúng. Đó có thể là sự chủ quan, cẩu thả, bất cẩn, thiếu ý thức trách nhiệm hoặc thậm chí cố ý làm trái vì các mục đích, động cơ khác.
Tuy nhiên, thái độ là một phẩm chất thuộc về yếu tố chủ quan của cá nhân. Chúng ta chỉ có thể nhận biết được thái độ thông qua biểu hiện của nó ra ngoài bằng hành vi. Do vậy, chỉ có thể đánh giá được thái độ của cán bộ quản lý là tích cực hay tiêu cực thông qua việc làm cụ thể. 10 Ba yếu tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ có vai trò rất lớn, quyết định quá trình hình thành và phát triển năng lực cho mỗi cán bộ làm công tác quản lý.
Khái niệm về quản lý và năng lực quản lý - Khái niệm chung về quản lý Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý. Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, thuật ngữ quản lý đươc định nghĩa là “Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Các nhà khoa học quan niệm: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường đang biến động”. Khái niệm quản lý cũng được định nghĩa theo cách khác nhau: “Quản lý là một hoạt động có kế hoạch, có chủ đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức, đưa tổ chức đạt đến mục tiêu đã xác định.
Nói cách khác, quản lý là quá trình thực hiện các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra để đưa tổ chức đạt đến mục tiêu đã đề ra” [29, tr. - Chức năng quản lý “Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý nhằm thực hiện mục tiêu chung của quản lý”. + Chức năng kế hoạch hoá: Đây là chức năng đầu tiên, có vai trò định hướng cho toàn bộ hoạt động. + Chức năng tổ chức: Nội dung của chức năng tổ chức là việc thiết lập cấu trúc của bộ máy quản lý (tổ chức công việc, sắp xếp con người).
+ Chức năng chỉ đạo - điều hành: Là phương thức tác động của chủ thể quản lý bằng các quyết định nhằm điều hành bộ máy vận hành theo đúng kế 11 hoạch đạt tới mục tiêu quản lý, trong đó bao gồm cả việc khuyến khích, động viên. + Chức năng kiểm tra - đánh giá: Đây là chức năng cuối cùng và rất quan trọng của quá trình quản lý. - Quản lý trường học Trường học là tổ chức cơ sở trực tiếp làm công tác giáo dục và đào tạo, là tế bào cơ bản của hệ thống giáo dục của từng địa phương và của quốc gia, là hệ thống bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân. Chính vì vậy, mọi hoạt động quản lý của các cấp quản lý giáo dục đều phải hướng về trường học.
Quá trình quản lý trong nhà trường được xem như là một thể thống nhất toàn vẹn, có các thành tố quan hệ mật thiết với nhau rất chặt chẽ. Trường học là nhân tố sinh thành hệ thống giáo dục. Không có nhà trường thì không thể có giáo dục theo đúng nghĩa của nó. Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục và đào tạo đối với ngành giáo dục, thế hệ trẻ và từng học sinh.
Quản lý trường học là quá trình tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên - học sinh và các cán bộ khác, đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường. Nói cách khác, đó là quá trình tác động lên toàn bộ các thành tố của quá trình giáo dục và đào tạo (bao gồm: hành chính, tài chính, tài sản công, con người: cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh; chuyên môn: mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp,…) nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu của quá trình giáo dục toàn diện, đạt tới các mục tiêu đã đề ra. - Năng lực quản lý 12 Năng lực quản lý cũng có phần chịu sự chi phối của yếu tố bẩm sinh (tố chất), nhưng chủ yếu được tạo ra trong quá trình hoạt động thực tế và sự trau dồi về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác và phẩm chất nhân cách của chủ thể quản lý. Do chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hoặc một nhóm, vì vậy, khái niệm năng lực quản lý của một cá nhân hay năng lực quản lý của một nhóm, nhưng không thể có một nhóm chủ thể quản lý có năng lực khi từng thành viên không có năng lực.