Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Năng lực và phát triển năng lực học sinh 1. Năng lực học sinh Quan niệm về năng lực cũng được các tác giả nghiên cứu và tổng kế với các khía cạnh giống và khác nhau: Tác giả Ngô Việt Hà (2014), “Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [26, tr. Cấu trúc của năng lực bao gồm: tri thức, kỹ năng và thái độ.
Năng lực bao gồm nhiều thành phần. Thông thường năng lực bao gồm 02 loại: năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội [3, tr. Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học (Ở các tài liệu khác nhau có thể gọi bằn các tên khác nhau năng lực chính, năng lực nền tảng, năng lực chủ yếu, kĩ năng chính, kĩ năng cốt lõi) ; Năng lực cụ thể chuyên biệt là năng lực được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/môn học nào đó (Năng lực môn học cụ thể để phân biệt với năng lực chung). Tác giả Lê ngộ (2012), “Năng lực của HS là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ.
phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống” [48, tr. Trong tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra - đánh giá kết quả học tập theo ĐHPTNL HS Bộ GD&ĐT cho rằng “Năng lực của HS phổ thông chính là khả năng vận dụng kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, giải quyết có hiệu quả những vấn đề có thực trong cuộc sống của các em” [10, tr. Từ các quan niệm trên cho thấy năng lực của HS là khả năng làm chủ và vận dụng có hiệu quả hệ thống kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, thái độ… phù hợp với của bản thân HS một cách hợp lý vào giải quyết tốt các nhiệm vụ học tập, những 9 Luan van vấn đề đặt ra cho các em trong cuộc sống từ đó giúp HS ngày càng phát triển hoàn thiện bản thân. Phát triển năng lực học sinh Đại tự điển Tiếng Việt Nguyễn Như Ý chủ biên: “Phát triển là biến đổi hoặc làm biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [68].
Như vậy có thể xác định: Phát triển là quá trình tăng trưởng về số lượng và biến đổi về chất của sự vật hiện tượng đã có, đã xây dựng nhưng chưa hoàn chỉnh, chưa đầy đủ được tiếp tục nâng cao để đáp ứng yêu cầu hiện thực khách quan. Với khái niệm phát triển như trên phát triển năng lực học sinh là quá trình tăng lên về số lượng và chất lượng năng lực của học sinh (năng lực chung và năng lực chuyên biệt) - Về lượng: là tăng lên về số lượng các năng lực học sinh cụ thể cần thiết của học sinh phù hợp với điều kiện và hoạt động của học sinh. - Về chất lượng: là tăng lên ở mức độ cao hơn, trình độ cao hơn của các năng lực cụ thể của học sinh đáp ứng yêu cầu điều kiện mới, giúp cho học sinh thích ứng tốt hơn và hoàn thành tốt hoạt động học tập cũng như các hoạt động khác trong nhà trường và ngoài xã hội. Phát triển năng lực học sinh là kết quả của quá trình dạy học làm cho các các năng lực chung và năng lực đặc trưng cho từng môn học/lớp học/cấp học được hình thành, củng cố và hoàn thiện ở người học.
Phát triển năng lực học sinh được thể hiện trên 3 phương diện: bề rộng và bề sâu chất lượng tri thức, thái độ và kĩ năng của năng lực và khả năng vận dụng tri thức, kĩ năng và thực tiễn [60]. Trong đề tài luận văn, phát triển năng lực học sinh cho học sinh thông qua dạy học môn Tiếng Việt trong nhà trường được nhấn mạnh ở góc độ phát triển về chất lượng năng lực học sinh. Ví dụ kĩ năng đọc ở lớp 4 tiểu học đọc thông chỉ cần “Đọc các văn bản nghệ thuật, khoa học, báo chí có độ dài khoảng 250 chữ, tốc độ 90-100 chữ/phút; Đọc thầm với tốc độ nhanh hơn lớp 3 (Khoảng 100-120 chữ/phút); Bước đầu biết đọc diễn cảm đoạn văn, đoạn thơ phù hợp với nội dung của từng đoạn” [33]. Ở lớp 5: “Đọc đúng là lưu loát các văn bản nghệ thuật (Thơ, văn xuôi, kịch), hành chính, khoa học, báo chí… có độ dài khỏang 200-300 chữ với 10 Luan van tốc độ 100-120 chữ/phút.
Biết đọc thầm bằng mắt với tốc độ nhanh hơn lớp 4 (Khoảng 120-140 tiếng/phút); Biết đọc diễn cảm bài văn, bài thơ, trích đoạn kịch ngắn”. Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường tiểu học 1. Khái niệm hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực 1. Hoạt động dạy học Theo tác giả Đặng Bá Lãm (2005), thì “dạy học là con đường tối ưu nhất giúp cho người học tiếp cận; nắm vững kinh nghiệm xã hội được phản ánh trong các khái niệm khoa học do loài người tích luỹ với sự tham gia điều chỉnh hợp lý về mặt tổ chức trong những khoản thời gian xác định họ đạt với mục đích do nhu cầu xã hội đặt ra với từng trình độ nhận thức tương ứng”[40].
Hoặc “Dạy học là phương tiện đem lại hiệu quả lớn lao trong việc phát triển hệ thống năng lực hoạt động trí tuệ của người học” [40]. Như vây, dạy học là hoạt động nhận thức của HS dưới sự tổ chức, điều khiển của GV nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Hoạt động dạy học là một hệ toàn vẹn gồm hoạt động dạy và hoạt động học luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau. Sự tương tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác, trong đó giảng dạy giữ vai trò chủ động, định hướng, hướng dẫn người học thực hiện tốt việc lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ xảo, kỹ năng nghề nghiệp [60].
Dạy học là hoạt động kép bao gồm dạy (do thầy đảm nhận) và học (do trò đảm nhận). Dạy và học có liên hệ tác động lẫn nhau không thể thiếu nhau, thầy giữ vai trò lãnh đạo, tổ chức điều khiển hoạt động của HS. HS giữ vai trò tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học của bản thân. Từ phân tích ở trên, có thể khái quát: Dạy học là hoạt động dưới sự tổ chức, điều khiển, lãnh đạo của người GV làm cho HS tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức học tập của mình nhằm thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ dạy học.
Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt động khác trong nhà trường. Hoạt động dạy học thực hiện các nhiệm vụ: làm cho HS nắm vững tri thức khoa học một cách có hệ thống cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần 11 Luan van thiết trong học tập, lao động và đời sống. Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của HS, hình thành ở HS thế giới quan khoa học, lòng yêu tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, đó chính là động cơ học tập trong nhà trường và định hướng hoạt động của HS. Môn Tiếng Việt Tiếng Việt là một môn học có đặc thù riêng, là bộ môn quan trọng trong nhà trường phổ thông nói chung, bậc tiểu học nói riêng.
Nó là sự kết hợp hài hòa giữa tính khoa học và nghệ thuật. Bằng những hình tượng và ngôn từ phong phú sinh động của mình, môn học cung cấp cho người học những kiến thức về cuộc sống cũng như những điều bí ẩn trong tâm hồn con người, trong mỗi sự vật, hiện tượng. Từ đó, nó tác động tới tâm tư, tình cảm và góp phần quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách, tâm hồn cho thế hệ trẻ. Hơn nữa, tuổi trẻ là lứa tuổi giàu cảm xúc, dễ rung động trước cái đẹp, môn tiếng Việt sẽ góp phần hướng tư duy HS đến Chân - Thiện - Mỹ, hình thành phẩm chất trong sáng của mỗi HS [63].
Văn học nói chung, tiếng Việt nói riêng là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, là cội nguồn đời sống và sự phản ánh chân thực chính nghệ thuật đời sống ấy, đồng thời là một hình thái quan niệm nhân sinh về xã hội. Tính đặc thù của văn học chính là ở chỗ nó là một hình thái phản ánh thẩm mỹ và bao giờ cũng cần tưởng tượng. Tính chất tưởng tượng hư cấu đem lại cho văn học những khả năng to lớn. Văn học, tiếng Việt được coi là “trò diễn bằng ngôn từ” bởi nó mang tính hình tượng, tính biểu cảm sinh động, tính hàm súc đa nghĩa, tính cá thể hóa cao trong giảng dạy và tiếp nhận mà không một môn học nào có được.
Tác phẩm văn học trở thành tín hiệu thẩm mỹ không chỉ mang đến thông tin mà còn bao hàm trong nó nhiều tầng nghĩa: tầng nghĩa trực tiếp, tầng nghĩa do hình dung tưởng tượng và tầng ý được tạo ra từ hai tầng nghĩa trên kết hợp với vốn sống riêng của mỗi cá nhân. Do đó, người học được coi là người đồng sáng tạo lên tác phẩm, thiếu người đọc thì hoạt động văn học chẳng khác gì một tiếng kêu vô vọng vang lên giữa cánh đồng hoang và mọc đầy cỏ dại. Mối quan hệ nhà văn - tác phẩm - thầy trò trong dạy học văn là mối quan hệ biện chứng. Người thầy văn học, tiếng Việt không chỉ được nói đến bên cạnh góc độ nghề nghiệp như các môn học khác, mà còn là một nhà phê bình văn học, mà cái khó ở đây là người thầy phải tìm được ý tưởng sâu xa, trừu 12 Luan van tượng, tiềm ẩn mà tác giả gửi gắm để truyền cảm trong văn học nghệ thuật, kích thích tính sáng tạo trong tư duy, tâm hồn HS ở mỗi thời đại, theo xu hướng, mục đích giáo dục [26].